Thứ Năm, 21 tháng 4, 2016

Bài 19 : LỊCH SỬ VIỆT 18 đời vua Hùng

Đỗ Khánh
Mối lo tư liệu gốc
Cụ Lê Trung Ngọc - Tuần phủ Phú Thọ, người xin vua Khải Định lập đền thờ vua Hùng, và cũng là người định ra ngày giỗ Tổ 10/3, trước đền Hùng vốn chỉ là cái am thờ thần núi thôi. Cụ cũng từng công khai chuyện này trong tọa đàm khoa học tại Phú Thọ, rằng đền Hùng/ tục “quốc giỗ” mới chỉ có từ năm 1917. Dữ liệu hiện nay cho thấy nó mang tính dã sử nhiều hơn, cái niên biểu (hình chụp) là thời gian trị vì hay thời gian các vua sống (có thể là trị vì, bởi niên biểu có tính tiếp nối nhau) nhưng các vị khó có thể trị vì trong thời gian dài như thế. Ví như Hùng Chiêu Vương, từ năm 1631 đến 1432 TCN, ông trị vì những 200 năm liền, điều này khó thuyết phục. Thực tế, chưa có bằng chứng gì về gia phả, phả hệ, tộc người để làm rõ chuyện ông là thủy tổ của dân tộc mình. Một người trong chúng ta, chưa chắc đã biết cụ tổ dòng họ từ 5 đời về trước nhà ta là ai, giỗ ngày nào.
Xét tích cụ thể, câu chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh cho thấy vua Hùng là cha đẻ của thói chiếu lệ, hình thức giả tạo ngày nay. Nếu đã “chấm” chàng Sơn Tinh thì nói huỵch toẹt móng ra, tội quái gì phải diễn vở kịch kén rể để đến nỗi chàng Thủy Tinh vốn tính giang hồ, không chịu được cái thiếu minh bạch mà đã đùng đùng nổi giận, oánh nhau với Sơn Tinh. Cứ ngẫm những yêu sách để kén rể của ông Hùng thì thấy sự thiên vị, thiếu khách quan và kinh điển như thế nào: “voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao”. Đây toàn là những đồ có sẵn trong nhà Sơn Tinh, là đặc sản của Núi. Chẳng hạn, nếu đồ thách cưới mà là tôm hùm, ba ba, ngọc trai v.v... thì chắc gì chàng Sơn Tinh đã thắng Thủy Tinh. Hóa ra, việc kén rể này cũng là “định hướng” của ông Hùng mà thôi. Truyện dân gian, có nhiều cái hay, nhưng cũng để lộ ra nhiều cái hạn chế của người Việt. Nay, dưới ánh sáng của văn minh thế giới, ta càng nhìn rõ hơn hạn chế đó.
Trong chính sử (Đại Việt sử ký) cũng viết trước thời An Dương Vương, lịch sử chỉ mang tính huyền sử. Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên xếp ở phần ngoại kỷ - tức dạng hỗn mang hoang đường, giờ được nâng phát thành Quốc Tổ. Chuyện Lạc Long Quân là chú họ của Âu Cơ, hôn nhân cận huyết nên không đẻ ra người mà đẻ ra trứng. Cụ Ngô Sĩ Liên viết, thời đó chưa có lễ giáo nên mới loạn luân như vậy. Giờ thì cả nước thi nhau rập đầu khấn bái “Quốc Tổ” hoang đường. Người ta làm hồ sơ tín ngưỡng Hùng Vương còn bịa ra tư liệu để chứng minh “Tục thờ quốc tổ” có từ đời Lê. Chuyện này đã được TS Trần Trọng Dương ở Viện Hán Nôm vạch trần trên 1 chuyên luận có nhan đề “Mối lo tư liệu gốc”.
ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Bình luận
Bình luận
Khanh Pham http://baophutho.vn/.../Luong-Thach-Tru-cua-Thuc-Phan.../
PTO- Cuốn ngọc phả lưu ở Đền Hùng, do trạng nguyên Nguyễn Cố đời vua Trần Thánh Tông biên soạn, đời vua Lê Thánh Tông Bộ Lễ viết lại, và năm Hoằng Định thứ nhất đời vua Lê Kính Tông...
BAOPHUTHO.VN
Khanh Pham https://www.facebook.com/HYS.VN/posts/554391731313761
Câu lạc bộ Thanh niên Khởi nghiệp Hà Nội
LINH THIÊNG NÚI NGHĨA LĨNH
Mời các bạn tham khảo tài liệu này trước khi tham dự Hành trình "Xuân Về Nguồn 2014". Tài liệu hơi dài nhưng mong Bạn cùng tìm hiểu n...
Xem thêm
Khanh Pham Tuệ Hải : Thời các vua Hùng, các dân tộc Bách Việt còn khá đơn thuần, sơ khai, trong tên gọi không có họ, chỉ có tên. Việc không có họ mà chỉ có tên này còn tồn tại cho đến ngày nay ở một số dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Ví dụ tên dân tộc Ê đê: Nam thì có chữ Y đứng đầu: Y’Moan, Y’Yuk,… nữ thì có chữ H đứng đầu: H’Ren, … hoặc tên dân tộc Rơ Ngao (một nhánh của dân tộc Bana): Nam thì có chữ A đứng đầu: A’Rum, A’Min, … nữ thì có chữ Y đứng đầu: Y’Hlum, Y’Dak, Y’Var… không có cái tên nào giống cái tên nào.

Cho nên có thể kết luận các vua Hùng mỗi người một tên không có tên nào giống tên nào là vì thời đó các dân tộc Bách Việt không có họ mà chỉ có tên, các vua cũng vậy. Về sau thêm chữ Hùng trước tên các vua là để chỉ người đứng đầu một nước. Chữ “Hùng” nghĩa gốc là con trống (trong các giống cầm), về sau mở rộng nghĩa ra thì có ý nghĩa như là con đầu đàn, người đứng đầu, anh hùng…

Bài 17 : SUY NGẪM VỀ TRẠNG TRÌNH ( Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Bài 19 : Nhà tiên tri Việt nam Nguyễn Bỉnh Khiêm (Trạng Trình)
Với những câu “sấm truyền”, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm được người đời suy tôn là “nhà tiên tri” số một của Việt Nam. Giai thoại cùng với những lời sấm tiên tri của ông vẫn còn được truyền tụng tận đến ngày hôm nay và nhiều khi ứng nghiệm đến bất ngờ, chẳng hạn như hai câu “Bao giờ Tiên Lãng xẻ đôi/Sông Hàn nối lại thì tôi lại về”…
Học được nhiều điều từ mẹ
Tương truyền, thuở nhỏ Nguyễn Bỉnh Khiêm có tên là Nguyễn Văn Đạt, với ý là sẽ thành đạt. Mẹ ông là Nhữ Thị Thục, con gái Hộ bộ Thượng thư Nhữ Văn Lân, là bậc nữ lưu tài hoa vào bậc nhất chốn kinh kỳ thời bấy giờ. Bà giỏi văn chương và tài học về lý, số. Biết trước những gì có thể xảy ra và có ước vọng là lấy chồng làm vua hoặc có con làm vua.
Skip in 6...sDo đó trong quá trình dạy dỗ, bà đã truyền cho Đạt ước vọng ấy. Một hôm khi bà đi vắng, ông Định ở nhà với con và tình cờ hát: “Nguyệt treo cung, nguyệt treo cung”. Không ngờ Đạt nhanh nhảu ứng đối lại ngay: “Vịn tay tiên, nhè nhẹ rung”. Khi bà về đến nhà, ông rất tâm đắc kể lại chuyện ấy thì bị bà trách: “Nuôi con mong làm vua làm chúa, cớ sao lại mong làm bầy tôi “ (Nguyệt chỉ bầy tôi).
Lại một lần khác, bà dạy cậu bé Đạt câu hát: “Bống bống bang bang, ngày sau con lớn con tựa ngai vàng”. Ông Định hoảng sợ vì nếu triều đình hay được sẽ mất đầu về tội khi quân, nên sửa lại: “Bống bống bang bang, ngày sau con lớn con vịn ngai vàng”. Nhiều lần như vậy, bà rất bất bình nên bỏ đi khiến Văn Đạt lớn lên chỉ được ở cạnh bố.
Đến tuổi trưởng thành, Văn Đạt đã cất công vào tận xứ Thanh để học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng, một quan đại thần hồi hưu sớm. Vốn sáng dạ lại chăm chỉ nên chẳng bao lâu Đạt đã trở thành học trò xuất sắc nhất của người thầy họ Lương. Bởi vậy mà trước khi qua đời, Lương Đắc Bằng đã trao lại cho Nguyễn Bỉnh Khiêm bộ sách quý về Dịch học là “Thái Ất thần kinh”. Gặp thời đại loạn, trông gương thầy mình, lại biết “bấm độn” nên Văn Đạt đã bỏ qua tới 9 kỳ đại khoa (trong đó có 6 khoa thi dưới triều Lê sơ và 2 khoa thi đầu tiên dưới triều Mạc).
Tới năm 1534, dưới thời Mạc Thái Tông, ông mới quyết định đi thi. Trước khi đi thi, ông đổi tên khai sinh Nguyễn Văn Đạt thành Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nghĩa của hai chữ “Bỉnh Khiêm” được hiểu là “giữ trọn tính khiêm nhường”. Khoa thi Hương năm 1534 ông đỗ đầu, sau đó ông đỗ đầu hai kỳ thi Hội, thi Đình năm 1535, đoạt danh hiệu Trạng nguyên nhà Mạc.
Thầy địa lý phương Bắc cũng bái phục
Đồn rằng, do được thầy Lương Ðắc Bằng truyền cho quyển “Thái ất thần kinh” nên Nguyễn Bỉnh Khiêm tinh thông về lý học, tướng số, có thể tiên đoán được biến cố trước và sau 500 năm. Chẳng thế mà có đôi câu đối ở đền thờ Bạch Vân am “Kế tuyệt, phù suy Chư Cát Lượng/ Tri lai, tàng vãng Thiệu Nghiên Phu” (Nối được cái đã đứt, đỡ được cái đã suy như Chư Cát Lượng/Tìm hiểu việc đã qua, dự đoán việc mai sau như Thiệu Nghiên Phu). Tiếng tăm của ông không chỉ nổi ở trong nước mà còn vang đến tận Trung Hoa, khiến giới học giả ở đó cũng ngưỡng mộ xưng tụng: “An Nam lý số hữu Trình Tuyền”.
Sau khi Trạng Trình mất, có thầy địa lý nổi tiếng ở Trung Quốc muốn xem thực, hư chuyện Trạng thế nào đã lặn lội sang tận mộ cụ. Đến nơi, thấy ngôi mộ đặt đúng vào huyệt đất tốt nhưng huyệt phát ở đằng chân mà mộ lại đặt ngược, ông thầy Tàu cho là Trạng Trình cũng chỉ có danh mà không có thực, mới tự đắc bảo: “Cái huyệt ở đàng chân sờ sờ thế kia mà không biết lại tự đem để mả thế này. Có thánh nhân cái gì đâu, hay là thánh nhân mắt mù đó”.
Con cháu cụ Trạng nghe thấy vậy liền khẩn khoản nhờ thầy đặt lại mộ cho. Ông thầy Tàu đồng ý và bảo: “Không cần phải đem đâu xa cả, chỉ cần đào lên rồi xoay lại quan tài và nhích lên một chút là được”. Y lời, con cháu cụ Trạng đào mộ lên, đến gần quan tài thì thấy có tấm bia. Ông thầy mới bảo rửa sạch đi để xem bia viết gì. Thì ra tấm bia có khắc một bài thơ: “Ngũ thập niên tiền mạch tại đầu/ Ngũ thập niên hậu mạch quy túc/ Hậu sinh nhĩ bối ná năng tri/ Hà vị thánh nhân vô nhỉ mục?” (Nghĩa là: Ngày nay mạch lộn xuống chân/Năm mươi năm trước mạch dâng đằng đầu/ Biết gì những kẻ sinh sau/ Thánh nhân mắt có mù đâu bao giờ?). Đọc xong tấm bia, ông thầy Tàu kinh hãi, toát cả mồ hôi hột, thì ra Trạng đã tiên liệu mọi việc.
“Tư vấn” cho nhiều anh hùng, chính khách
Vào thời Lê - Mạc, giữa Trịnh Kiểm (con rể Nguyễn Kim) và Nguyễn Hoàng (con Nguyễn Kim) có cơ xảy ra mâu thuẫn một mất, một còn. Khi Nguyễn Hoàng xin ý kiến Trạng về đường đi nước bước, ông đã tặng cho hai câu: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, với ý bảo rằng hãy tìm đường vào phía Nam dựa vào dãy Trường Sơn mà tồn tại. Nguyễn Hoàng nghe theo, nên xin Trịnh Kiểm vào trấn giữ từ Đèo Ngang trở vào. Nhờ thế Nguyễn Hoàng chẳng những bảo toàn được tính mạng mà còn lập nên cơ nghiệp của họ Nguyễn ở Đàng Trong, truyền nối lâu dài đến mấy trăm năm.
Năm Mậu Thân (1548) Vua Lê Trang Tông mất, Trịnh Kiểm lập Thái tử tên Duy Huyên lên ngôi, tức Lê Trung Tông, được 8 năm thì mất, không có con nối nghiệp. Trịnh Kiểm muốn làm vua nhưng còn sợ dư luận nên sai người đến hỏi ý khiến Trạng Trình. Ông chỉ bảo: “Chịu khó mà thắp nhang, thờ Phật thì ăn oản” (có nghĩa rằng, phải thờ nhà Lê thì có lộc). Hiểu ý Trạng, sau đó Trịnh Kiểm tìm con cháu họ Lê, đưa lên làm vua, tức là Lê Anh Tông.
Nhà Mạc suy vong, trước khi Trạng mất đã đến xin ý kiến nên tồn tại thế nào, ông đã đọc hai câu: “Cao Bằng tàng tại, Tam đại tồn cô” (nghĩa rằng rút về đất Cao Bằng thì sẽ kéo dài thêm được ba đời nữa). Con cháu nhà Mạc đã theo kế ấy, thu về đất Cao Bằng và đã tồn tại được thêm ba đời là Mạc Kính Cung, Mạc Kính Khoan và Mạc Kính Vũ.
Ứng nghiệm cả ở đời sau
Trước lúc mất, Trạng có giao cho con cháu một ống tre sơn son thếp vàng, bịt kín hai đầu và dặn đúng năm tháng ấy, ngày giờ ấy, phải để cái ống ấy vào kiệu rước lên dinh Thống đốc Hải Dương, trao cái ống này cho quan. Trạng còn dặn thêm là tuyệt đối không được mở ống ra xem trước thời hạn và trừ quan Tổng đốc ra, không ai được mở ống.
Sau khi Trạng mất, con cháu Trạng lâm vào cảnh đói nghèo, sa sút. Nhưng phải đến đời thứ bảy, cái ống tre ấy mới được rước lên dinh quan Tổng đốc, đúng ngày giờ đã ghi trong gia phả. Đang nằm nghỉ, nghe tin con cháu cụ Trạng mang thư đến gặp, quan Tổng đốc rất ngạc nhiên, không biết vì cớ gì, nên truyền cho vào, đồng thời quan ngồi dậy để đi ra cửa. Quan Tổng đốc vừa bước khỏi giường nằm được mấy bước thì bỗng “rầm” một cái, chiếc xà nhà bằng gỗ nặng không biết bị mọt ăn hỏng từ bao giờ, rơi ngay xuống chỗ giường vừa nằm.
Thật là một phen hú vía! Quan Tổng đốc mở ống tre ra xem, thấy bên trong có một cuộn giấy, đề hai câu thơ:”Ngã giải nhĩ thượng lương chi ách/ Nhĩ cứu ngã tử tôn chi bần” (Nghĩa là: Cứu ngươi thoát nạn đổ nhà/ Ngươi nên cứu cháu con ta khỏi nghèo). Quan Tổng đốc biết rằng Trạng Trình đã cứu mạng, nên ông ta đã giúp con cháu cụ Trạng nhiều tiền của để đền ơn.
Năm Minh Mạng thứ 14, Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ được Vua điều đi khẩn hoang ở vùng Hải Dương. Vấn đề là cần phải đào con sông, mà đào sông thì phải phá đền thờ Trạng Trình. Ông bèn ra lệnh cho dân phu phá đền để đào sông.
Trước khi phá, sai người đào vào đền mang bát hương ra, Nguyễn Công Trứ chợt thấy dưới bát hương có một tấm bia đá nhỏ phủ vải điều. Sau khi lau sạch, tấm bia lộ ra dòng chữ: “Minh Mạng Thập tứ/ Thằng Trứ phá đền/ Phá đền phải làm đền/ Nào ai đụng đến doanh điền nhà bay”. Thất kinh, Nguyễn Công Trứ chẳng những bãi bỏ lệnh phá đền mà còn cho sửa sang lại khang trang hơn./.
THEO BAOPHAPLUAT.VN

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm được người đời suy tôn là “nhà tiên tri” số một của Việt Nam. Giai thoại cùng với những lời sấm tiên tri của ông vẫn còn được truyền…
DOISONGPHAPLUAT.COM
ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Bình luận