Giới thiệu: Dự ngôn «Mã Tiền Khóa» (马前课) là do Thừa tướng Gia Cát Lượng nhà Thục Hán thời Tam Quốc sáng tác. Nhắc đến Gia Cát Lượng, có thể nói là nhà nhà đều biết, nhưng không nhiều người biết về «Mã Tiền Khóa».
Tương truyền Gia Cát Lượng vào lúc nhàn hạ trong quân đã sáng tác «Mã Tiền Khóa» (tên «Mã Tiền Khóa» có nghĩa là “quẻ bói gieo trước ngựa”). «Mã Tiền Khóa» ngắn gọn súc tích phi thường, chỉ có 14 khóa, mỗi khóa dự ngôn một thời đại lịch sử, mà mỗi một khóa lại tuân theo một trật tự sắp xếp. Khi mỗi thời đại lịch sử qua đi rồi, người ta quay lại xem mới thấy Gia Cát Lượng dự ngôn chuẩn xác đến phi thường.
Chân dung Gia Cát Lượng.
Liệu sự như thần
Tài năng của Khổng Minh đâu chỉ dừng ở những lĩnh vực ấy. Với người Trung Quốc, Gia Cát Lượng còn là nhà tiên tri vô cùng vĩ đại. Ông được mệnh danh là người “trên thông thiên văn, dưới tường địa lý”, có tài tiên đoán mọi việc cực chuẩn xác.
Nói về kỳ tài “liệu sự như thần” của Khổng Minh, dân gian Trung Quốc hãy còn lưu truyền một câu chuyện khá thú vị.
Tương truyền, trước lúc lâm chung, Gia Cát Lượng dặn dò con cháu: “Sau khi ta chết, trong số các con sẽ gặp phải đại họa chết người. Tới lúc ấy, hãy dỡ nhà, lấy từ trong tường ra một bọc giấy, trong đó có cách cứu mạng”. Sau khi ông qua đời, Tư Mã Viêm lên ngôi hoàng đế. Nghe tin trong số quan quân triều đình có viên tướng quân là hậu thế của Gia Cát Lượng, Viêm bèn nghĩ cách trừng trị người này.
Một hôm, Tư Mã Viêm tìm cớ định tội chết cho viên tướng nhà Gia Cát. Trên Kim điện, Viêm cất lời hỏi: “Trước khi chết, tổ phụ nhà ngươi đã nói những gì?”. Kẻ “tội đồ” bèn thật thà truyền đạt tới vua lời dặn dò của Gia Cát Lượng. Nghe thấy vậy, Tư Mã Viêm bèn ra lệnh cho quân lính dỡ nhà, lấy bọc giấy ra xem. Bên trong chỉ có một phong thư kín, phía trên viết rằng: “Ngộ hoàng nhi khai” (nghĩa là đúng hoàng thượng mới mở ra xem). Đám binh sĩ bèn dâng thư lên vua. Trong thư có mấy chữ: “Xin lùi ba bước”. Tư Mã Viêm lập tức làm theo. Vừa đứng vững đã nghe thấy một tiếng “rầm”, chiếc xà rơi thẳng xuống chỗ vua ngồi, khiến bàn ghế tan tành. Viêm trông thấy vậy mà sợ hãi lạnh người, rồi lại xem tiếp những dòng ở cuối thư: “Ta cứu mạng ngươi, ngươi hãy giữ lại mạng sống của con cháu ta”. Xem xong thư, Tư Mã Viêm thầm thán phục tài tiên đoán như thần của Gia Cát Khổng Minh rồi ra lệnh phục nguyên chức cho vị tướng quân này.
Còn theo Bách Khoa toàn thư mở, Khổng Minh bỗng lâm bệnh nặng khi ra Kỳ Sơn lần thứ 6. Biết mệnh sắp tàn, ông cho gọi tướng tài Khương Duy vào truyền thụ 24 thiên binh thư của mình. Gia Cát Lượng còn cẩn thận dặn dò các tướng quân phải nêu cao cảnh giác, đề phòng mối nguy quân Ngụy tấn công, Ngụy Diên trở mặt làm phản rồi bày cho diệu kế đối phó.
Quả nhiên, mọi lo lắng, tiên liệu của ông trước khi qua đời đều thành hiện thực. Ngụy Diên tráo trở làm phản, nhưng vì nghe lời căn dặn của quân sư, Mã Đại đã chém chết Diên.
Lại nói, khi Tư Mã Ý hô quân tới đánh, bên Thục bèn đẩy xe có tượng gỗ của Khổng Minh ra trận, khiến Ý hoang mang lo sợ rồi tháo chạy. Nhờ đó, quân Thục bình an vô sự rút về Thành Đô.
Thêm lần nữa, tài tiên liệu hơn người của Gia Cát Lượng đã bảo toàn mạng sống cho quân binh và cứu vãn thế sự cho cả vương triều. Để tưởng nhớ công lao to lớn của ông, dân gian lưu truyền câu nói: “Gia Cát chết vẫn đuổi được Trọng Đạt sống”.
Bí ẩn những lời “sấm truyền” trong “Tiền Mã Khóa”
Sau đây là phần giải nghĩa:
Khóa 1 ○●●●●○ Trung Hạ
Vô lực hồi thiên
Cúc cung tận tụy
Âm cư Dương phất
Bát thiên nữ quỷ
Tạm dịch:
Không sức đổi Trời
Còng mình gắng sức
Âm tồn Dương phất
Tám ngàn nữ quỷ
Giải: “Vô lực hồi thiên, Cúc cung tận tụy” là nói bản thân Gia Cát Lượng, như ông viết trong «Xuất sư biểu»: “Thần cúc cung tận tụy, đến chết mới thôi“. “Âm cư Dương phất” chỉ hoạn quan Hoàng Hạo loạn quyền, Khương Duy chỉ có thể duy trì tàn cục chứ không thể làm gì được. “Bát thiên nữ quỷ” (八千女鬼) chính là chữ “Ngụy” (魏), chỉ nước Ngụy diệt Thục Hán.
Khóa 2 ○●○○●○ Trung Hạ
Hỏa thượng hữu hỏa
Quang chúc Trung Thổ
Xưng danh bất chính
Giang Đông hữu hổ
Tạm dịch:
Trên lửa có lửa
Rọi sáng Trung Thổ
Xưng danh bất chính
Giang Đông có hổ
Giải: “Hỏa thượng hữu hỏa”, trên “hỏa” (火) có “hỏa” (火) chính là chữ “Viêm” (炎). Chỉ Tư Mã Viêm lập nên triều Tấn. “Xưng danh bất chính” chỉ triều Tấn của Tư Mã Viêm thực chất là soán ngôi Tào Ngụy mà kiến lập, mà Tào Ngụy lại là soán ngôi triều Hán mà kiến lập, danh không chính ngôn không thuận. “Giang Đông hữu hổ” chỉ Đông Tấn thành lập, đóng đô tại Kiến Khang thuộc Giang Đông. “Hổ” chỉ Tư Mã Duệ.
Khóa 3 ○●●●●● Hạ Hạ
Nhiễu nhiễu Trung Nguyên
Sơn hà vô chủ
Nhị tam kỳ vị
Dương chung mã thủy
Tạm dịch:
Nhiễu loạn Trung Nguyên
Non sông không chủ
Hai ba vị ấy
Dê cùng ngựa chạy
Giải: “Nhiễu nhiễu Trung Nguyên, Sơn hà vô chủ” miêu tả Trung Quốc vào thời loạn bát vương, ngũ hồ thập lục quốc và thời đại Nam-Bắc triều. “Nhị tam kỳ vị” (Hai ba vị ấy) chỉ một số Đế vương chỉ tại vị trong một thời gian rất ngắn. “Dương chung mã thủy” (Dê cùng ngựa chạy) chỉ đại loạn khởi từ gia tộc nhà Tư “Mã” {ngựa}, kết thúc là “Dương” Kiên kiến lập triều Tùy. Họ “Dương” (杨) với chữ “dương” {dê} (羊) là đồng âm.
Khóa 4 ●●○●○● Trung Thượng
Thập bát nam nhi
Khởi vu Thái Nguyên
Động tắc đắc giải
Nhật nguyệt lệ thiên
Tạm dịch:
Mười tám nam nhi
Khởi từ Thái Nguyên
Động ắt được giải
Nhật nguyệt tươi đẹp
Giải: “Thập bát nam nhi” là “thập bát tử”, “thập bát tử” (十八子) hợp thành chữ “Lý” (李). Chỉ thời Tùy mạt, Lý Uyên khởi binh từ Thái Nguyên. “Động tắc đắc giải” ý nói Lý Uyên khởi binh là đường sinh, không phải đường tử. “Nhật nguyệt tươi đẹp” chỉ văn minh Đại Đường sáng lạn.
Khóa 5 ○○○●●● Hạ Trung
Ngũ thập niên trung
Kỳ số hữu bát
Tiểu nhân đạo trường
Sinh linh đồ độc
Tạm dịch:
Trong năm thập niên
Số ấy có tám
Tiểu nhân đường dài
Sinh linh tàn hại
Giải: 53 năm sau triều Đại Đường, Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu cùng xưng là “Ngũ Đại”. Thời “Ngũ Đại” tổng cộng có 8 họ người được xưng là Hoàng đế, ứng với “Số ấy có tám”. Thạch Kính Đường tự xưng là Hoàng đế với Khiết Đan, ứng với câu “Tiểu nhân đường dài”.
Khóa 6 ●○○●○○ Thượng Trung
Duy thiên sinh Thủy
Thuận thiên ứng nhân
Cương trung nhu ngoại
Thổ nãi sinh Kim
Tạm dịch:
Chỉ Trời sinh Thủy
Thuận Trời hợp người
Trong cứng ngoài mềm
Thổ ấy sinh Kim
Giải: Triều Tống thực hành nền chính trị nhân từ, thuộc tính “Thủy”. Thổ khắc Thủy, như vậy triều Kim sinh ra từ Thổ chính là khắc tinh của triều Tống. “Thổ nãi sinh Kim”, “Kim” chỉ nước Kim, kẻ thù không đội trời chung của triều Tống. Chính sách nội ngoại của triều Tống có thể dùng “trong cứng ngoài mềm” để hình dung.
Khóa 7 ●○●○○● Trung Trung
Nhất nguyên phục thủy
Dĩ cương xử trung
Ngũ ngũ tương truyền
Nhĩ Tây ngã Đông
Tạm dịch:
Một nguyên về đầu
Lấy cứng đặt giữa
Năm năm tương truyền
Ngươi Tây ta Đông
Giải: “Nhất nguyên phục thủy” (Một nguyên về đầu) chỉ triều Nguyên kiến lập. “Dĩ cương xử trung” (Lấy cứng đặt giữa) chỉ người Mông Cổ thống trị cực kỳ hà khắc với người Hán. “Ngũ ngũ tương truyền” là chỉ triều Nguyên tổng cộng có 10 (=5+5) vị Hoàng đế. “Nhĩ Tây ngã Đông” chính là nói người Mông Cổ phân thành các Hãn quốc.
Khóa 8 ○○●●●○ Thượng Thượng
Nhật nguyệt lệ thiên
Kỳ sắc nhược xích
Miên miên diên diên
Phàm thập lục diệp
Tạm dịch:
Nhật nguyệt tươi đẹp
Sắc ấy như đỏ
Kéo dài liên miên
Gồm mười sáu lá
Giải: “Nhật nguyệt tươi đẹp”, chữ “nhật” (日) ghép với chữ “nguyệt” (月) chính là chữ “Minh” (明), chỉ triều Minh. “Sắc ấy như đỏ”, đỏ là “chu”, chỉ họ “Chu” (朱). “Kéo dài liên miên, Gồm mười sáu lá”, ý nói triều Minh có tổng cộng 16 đời Hoàng đế.
Khóa 9 ○●○●●● Trung Thượng
Thủy nguyệt hữu chủ
Cổ nguyệt vi quân
Thập truyền tuyệt thống
Tương kính nhược tân
Tạm dịch:
Nước trăng có chủ
Trăng cổ làm vua
Truyền mười tuyệt sạch
Kính nhau như khách
Giải: “Thủy nguyệt hữu chủ”, ba điểm Thủy (氵) cộng thêm “nguyệt” (月) rồi thêm “chủ” (主) hợp thành một chữ “Thanh” (清). “Cổ nguyệt vi quân”, “cổ nguyệt” (古月) chính là chữ “Hồ” (胡), chỉ triều Thanh do người dân tộc thiểu số (Hồ nhân) kiến lập. “Thập truyền tuyệt thống” ý nói triều Thanh từ khi nhập quan truyền được 10 đời Hoàng đế, cuối cùng là Tuyên Thống. “Tương kính nhược tân” (Kính nhau như khách) là chính phủ Quốc Dân ưu đãi các thành viên vương tộc nhà Thanh.
Khóa 10 ●○●○●● Trung Hạ
Thỉ hậu ngưu tiền
Thiên nhân nhất khẩu
Ngũ nhị đảo trí
Bằng lai vô cữu
Tạm dịch:
Lợn sau trâu trước
Nghìn người một miệng
Năm hai đảo ngược
Bạn đến không trách
Giải: “Lợn sau trâu trước” là năm Tý 1912 (sau Hợi trước Sửu), Trung Hoa Dân Quốc thành lập. “Thiên nhân khẩu” (千人口) chính là chữ “hòa” (和), chỉ thực hành cộng hòa chế. “Ngũ nhị đảo trí”, “ngũ” là ngôi Vua (có câu “cửu ngũ chí tôn”), như vậy “Năm hai đảo ngược” ý là “dân chủ”. “Bằng lai vô cữu” là quái từ, chỉ tuy có xâm nhiễu mà cũng không ngại lắm (bị Nhật Bản xâm lược nhưng không ngại).
Khóa 11 ○●○○●○ Trung Hạ
Tứ môn sạ tích
Đột như kỳ lai
Thần kê nhất thanh
Kỳ đạo đại suy
Tạm dịch:
Bốn cửa mở toang
Thình lình đột ngột
Tiếng gà gáy sớm
Đạo này đại suy
Giải: “Bốn cửa mở toang” chính là chữ “cộng” (共), chỉ đảng cộng sản bất ngờ được thiên hạ, văn hóa truyền thống 5.000 năm bị phá hoại. “Tiếng gà gáy sớm, Đạo này đại suy”, chỉ năm Dậu {gà} 2005, «Cửu bình cộng sản đảng» phát hành, dân chúng đua nhau thoái đảng, thế đảng bắt đầu suy bại.
Khóa 12 ●○○○○● Thượng Trung
Chửng hoạn cứu nạn
Thị duy Thánh nhân
Dương phục nhi trị
Hối cực sinh minh
Tạm dịch:
Cứu họa cứu nạn
Duy có Thánh nhân
Dương phục mà trị
Đêm hết ngày rạng
Giải: “Cứu họa cứu nạn, Duy có Thánh nhân”. Thời kỳ mạt Pháp, giữa thời loạn thế, Pháp Luân Đại Pháp hồng truyền cứu người. “Dương phục mà trị, Đêm hết ngày rạng”, chỉ ngày 21 tháng 12 năm 2012 (ngày Đông chí), nghênh đón vạn vật canh tân, bắt đầu kỷ nguyên mới. Theo sách «Hoàng Cực kinh thế» của Thiệu Ung tiên sinh triều Tống, năm 2012 là quẻ “Phục” (Địa Lôi Phục). Còn “Hối cực sinh minh” (Đêm hết ngày rạng) chính là Đông chí trong 24 tiết khí, là ngày Âm cực đỉnh Dương mới sinh, vừa trùng khớp với ngày trong tiên tri của người Maya.
Khóa 13 ○●●○○○ Thượng Trung
Hiền bất di dã
Thiên hạ nhất gia
Vô danh vô đức
Quang diệu Trung Hoa
Tạm dịch:
Hiền không rơi mất
Thiên hạ một nhà
Không danh không đức
Chói lọi Trung Hoa
Giải: Đoạn này nói về thời kỳ chỉnh thể đạo đức nhân loại hồi thăng, mọi người toàn thế giới đối xử với nhau như người một nhà, là tượng thế giới đại đồng. Giống với Tượng 59 «Thôi Bối Đồ» (“Vô thành vô phủ, Vô nhĩ vô ngã, Thiên hạ nhất gia, Trị trăn đại hóa”).
Khóa 14 ○●○●○● Trung Hạ
Chiêm đắc thử khóa
Dịch số nãi chung
Tiền cổ hậu kim
Kỳ Đạo vô cùng
Tạm dịch:
Bói được quẻ này
Dịch số đã hết
Trước cũ sau mới
Đạo ấy vô cùng
Giải: Văn minh lần này kết thúc, kỷ nguyên mới bắt đầu. Giống với Tượng 60 «Thôi Bối Đồ» (“Nhất Âm nhất Dương, Vô chung vô thủy, Chung giả nhật chung, Thủy giả tự thủy”).
Ghi chú: Các dự ngôn khác cũng nói về quẻ “Phục” năm 2012.
«Mai Hoa Thi»: “Dục tướng Bác Phục vấn tiền nhân”: năm 2011 là quẻ “Bác”, năm 2012 chính là quẻ “Phục”.
«Bộ Hư Đại Sư dự ngôn thi»: “Thế vũ tam phân, Hữu Thánh nhân xuất, Huyền sắc kỳ quan, Long trương kỳ phục, Thiên địa phục minh, Xử trị vạn vật, Tứ hải âu ca, Ấm thụ kỳ phúc”.
«Thôi Bối Đồ», Tượng 1: “Chu nhi phục thủy”; «Thôi Bối Đồ» tổng cộng 60 Tượng, tuần hoàn một vòng theo lục thập giáp tử.
Nam Việt / Tổng hợp Chanhkien, Secretchina
Mạn đàm về cái chết của Đổng Trác: Chuyện sinh tử đã được báo trước
Chuyện Đổng Trác chết dưới tay Lữ Bố trong “Tam Quốc diễn nghĩa” hẳn là điển cố mà không ít người say mê đại danh tác này vẫn còn nhớ, bởi một phần nó cũng liên quan đến một trong tứ đại mỹ nhân của Trung Quốc là Điêu Thuyền. Nhưng không biết có bao người để ý, cái chết của Đổng Trác thực tế trước đó đã có rất nhiều điềm báo.
“Tam Quốc diễn nghĩa”, một trong tứ đại danh tác văn học cổ điển nổi tiếng Trung Quốc, khi tôi còn học trung học đã từng đọc qua, đó là cuốn tiểu thuyết duy nhất tôi từng xem thời trung học.
Thời gian trôi qua đã lâu, kí ức lúc bấy giờ cũng đã nhạt nhòa, hơn nữa lúc đó chỉ đọc như kiểu ăn tươi nuốt sống, căn bản vốn không hiểu gì cả. Bây giờ đã là thời đại vi tính, tuy không cần phải tốn tiền mua sách nữa, trong máy tính của mình đã tải về rất nhiều sách điện tử, nhưng sách nhiều rồi lại không có nhiều thời gian như vậy để đọc. Đúng như câu người ta thường nói, lúc không có tiền thì có thì giờ đọc sách, đợi đến khi có tiền rồi thì lại không có thời gian để xem nữa.
Một lần tình cờ, tôi có dịp xem phim “Tam Quốc diễn nghĩa” trên truyền hình, xem đến đoạn “Cái chết của Đổng Trác”, bỗng dưng phát hiện Đổng Trác trên đường đến kinh thành có nghe thấy một bài đồng dao, “thảo thiên lí, hà thanh thanh, thập nhật bốc, bất đắc sinh (cỏ ngàn dặm, xanh được sao? Trong mười ngày, không được sống)
Trong phim, một người đàn ông vội vàng đuổi đám trẻ đi, rồi còn nói, bài đồng dao này có ý nói rằng Đổng Trác sắp phải chết, nên ông ta lo sợ Đổng Trác sẽ làm hại lũ trẻ. Xem đến đây, bất giác cảm thấy hiếu kì, dứt khoát vào sách điện tử mở “Tam Quốc diễn nghĩa” xem lại, vừa tìm thử, quả nhiên thấy có bài đồng dao này. Ngoài bài đồng dao này ra, tôi còn phát hiện thấy trước cái chết của Đồng Trác đã có rất nhiều điềm báo khác nữa, tổng cộng có hơn 5 điều:
“Trác ra khỏi My Ổ, lên xe, quân sĩ tiền hô hậu ủng, hướng về Trường An. Đi chưa được ba mươi dặm, chiếc xe đang ngồi, bỗng gẫy một bánh, Trác xuống xe cưỡi ngựa. Lại đi chưa được mười dặm, ngựa tự dưng lồng lên gầm thét dữ tợn, lôi đứt dây cương. Trác hỏi Túc rằng: ‘Xe gẫy bánh, ngựa đứt cương, là điềm gì?’. Túc đáp: ‘Chính là điềm Thái sư sẽ nối ngôi nhà Hán, thay cũ đổi mới, sẽ ngồi kiệu ngọc yên vàng’ . Trác vui vẻ tin lời. Hôm sau, đang lúc đi, bỗng một cơn gió dữ nổi lên ầm ầm, mây kéo nghịt trời. Trác hỏi Túc rằng: ‘Đây là thế nào?’. Túc thưa: ‘Chúa công nối ngôi rồng, tất sẽ có ráng hồng mây tía, trợ thêm oai trời’. Trác nghe lấy làm lọt tai. Khi đến trước thành, bá quan đều ra nghênh đón. Chỉ có Lí Nho cáo bệnh ở nhà, không ra đón được. Trác vào tướng phủ, Lữ Bố theo cùng. Trác nói: ‘Ta lên ngôi Cửu Ngũ chí tôn, con sẽ thống lĩnh binh mã thiên hạ’.
Bố bái tạ, rồi vào lều nghỉ ngơi. Đang đêm, mười đứa trẻ hát rong ngoài đường phố, gió đưa tiếng hát vào tận màn. Hát rằng: ‘Cỏ nghìn dặm, xanh thế nào? Trong mười ngày, không được sống’. Tiếng hát ai oán bi thương. Trác hỏi Lí Túc rằng: ‘Bài đồng dao này, hung cát thế nào?’. Túc đáp: ‘Ý là họ Lưu bị diệt, họ Đổng lên thay’.
Mờ sáng hôm sau, Trác sai bày nghi vệ, rồi bắt kẻ hầu người hạ đi theo vào trong triều, bỗng thấy một Đạo nhân, mình mặc áo xanh, đầu đội khăn trắng, tay cầm một cái sào dài, trên buộc mảnh vải dài một trượng, hai đầu viết hai chữ “Khẩu”. Trác hỏi Túc: ‘Đạo nhân này là ý gì?’. Túc nói: ‘Đó là một kẻ điên’. Rồi lệnh quân sĩ đuổi đi”.

Những điềm báo như: xe gẫy bánh, ngựa đứt cương, mây đen nghịt trời, tiếng trẻ hát trong đêm, cùng với Đạo nhân cầm sào,…kì thực đều là điềm báo về cái chết của Đổng Trác; chẳng qua là Lý Túc, người giải điềm báo cho Đổng Trác, cũng là người muốn lấy mạng y, nên đã cố tình giải sai hàm nghĩa những điềm báo này.
Đổng Trác
Dưới đây chúng ta hãy xem thử hàm nghĩa thật sự của những điềm báo này:
Ba điều đầu tiên là xe gãy bánh, ngựa đứt cương, mây đen nghịt trời, những hiện tượng bất thường này chỉ là cảnh báo nguy hiểm, chứ không có nói rõ điều gì thêm, nhưng tiếng trẻ hát trong đêm cùng với Đạo nhân cầm sào ở phía sau đã nói rõ về cái chết của Đổng Trác cùng với người giết y.
Bài đồng dao “thảo thiên lí, hà thanh thanh! Thập nhật bốc, bất đắc sinh” (cỏ ngàn dặm, xanh thế nào!Trong mười ngày, không được sống!). Kỳ thực, đây là một dạng đố chữ, “thảo thiên lí”, đây là chữ “Đổng”, ám chỉ họ của Đổng Trác; “hà thanh thanh”, “hà” chính là “như thế nào được”, chính là không thể giữ được xanh tươi “thanh thanh”, vậy không phải khô héo thì là gì đây, thực ra là chỉ cái chết; “thập nhật bốc”, đây chính là chữ “Trác”, ám chỉ tên của Đổng Trác; “bất đắc sinh”, càng nói rõ hơn là Đổng Trác sắp phải chết.
Còn về “
Đạo nhân cầm sào” xuất hiện ở đoạn sau, đầu đội khăn trắng là chỉ “
để tang”, người chết rồi mới phải để tang; hai đầu của tấm vải trên cây sào lần lượt viết hai chữ “
khẩu” (
口), hai chữ “
khẩu “ này ghép lại thì chính là chữ “Lữ” (
侶), đây ám chỉ họ của Lữ Bố; vậy là tấm vải trên cây sào là chỉ tên của Lữ Bố. “
Đạo nhân cầm sào” đã chỉ rõ người giết Đổng Trác chính là Lữ Bố.
Văn hóa chính thống của Trung Hoa chính là như vậy, chính là tin vào sự tồn tại của Thần Phật, văn hóa cổ đại này chính là văn hóa nửa Thần. Những điều xuất hiện trước khi Đổng Trác chết, thực ra chính là điềm báo.
Có thể có người nói đây là tiểu thuyết, những điều trong tiểu thuyết rốt cuộc cũng chỉ là hư cấu mà thôi. Mặc dù “Tam Quốc diễn nghĩa” là bảy thực ba hư nên không thể nói rõ rằng sự thật lịch sử chính là như vậy. Tuy nhiên, những gì ghi chép trong cuốn sách sử là “Tam Quốc Chí” cùng với “Hán Mạt anh hùng kí’ của Vương Sán thời bấy giờ, so với “Tam Quốc diễn nghĩa” phần lớn là giống nhau, ví như bài đồng dao nói trên, trong “Hán Mạt anh hùng kí”, được nhắc đến như sau:
“Lúc bấy giờ có lời đồn rằng: ‘thảo thiên lí, hà thanh thanh, thập nhật bốc, do bất sinh’; lại thêm bài hát ‘Đổng đào’ (Đổng Trác bỏ trốn). Cũng lại có Đạo sĩ viết một chữ ‘Lữ’ trên tấm vải trước mặt Trác, Trác không biết đó là Lữ Bố. Khi Trác vào triều, binh mã đứng chật hai bên, từ doanh trại đến hoàng cung, triều thần dẫn đầu nghênh đón. Con ngựa quỵ xuống, không thể đi tiếp được, Trác rất muốn dừng lại, Bố khuyên hãy đi tiếp, từ Trung Giáp mà vào trong cung”.
Từ trong những quyển sách sử này, ta cũng có thể thấy được rằng đây đều là những điềm báo trước về cái chết của Đổng Trác. Đọc sách sử, liền liên tưởng đến hiện thực trước mắt, bây giờ ở Trung Quốc cũng có những điềm báo tương tự, dự ngôn về những điều sẽ xảy đến ở Trung Quốc trong tương lai, trong đó không gì có thể sánh được với “Tàng Tự Thạch” ở tỉnh Quý Châu.
Vào tháng 6/2002, “Tàng Tự Thạch” được phát hiện tại quân trại Lãng Mã, huyện Bình Đường, Quý Châu. Một tảng đá lớn nặng hơn trăm tấn sau khi rơi từ trên đỉnh núi xuống, vỡ thành hai mảnh, điều kì lạ nhất chính là ở trên mặt vết nứt có thể nhìn thấy rõ ràng năm chữ lớn “Trung Quốc Cộng Sản Đảng Vong” xếp theo hàng ngang một cách ngay ngắn. Theo tờ báo, năm chữ này được hình thành tự nhiên, không có dấu vết người điêu khắc, trạm trổ, lắp ghép gì cả.
Đối với bản tin này, nhà xuất bản Nhân Dân nhật báo ở hải ngoại vào lần xuất bản thứ 6, ngày 27/4/2006, cũng đã đưa tin. Tuy nhiên, bài viết không hề đề cập đến chữ “Vong” đứng phía sau năm chữ “Trung Quốc Cộng Sản Đảng”, dù chữ “Vong” này có thể được trông thấy rõ ràng như năm chữ trước đó.

Tàng Tự Thạch bỗng dưng nứt đôi lộ ra dòng chữ “Trung Quốc Cộng Sản Đảng vong”, tiết lộ thiên cơ về sự sụp đổ của ĐCSTQ.
Sự kiện này rõ ràng là điềm báo trước Đảng Cộng Sản Trung Quốc sẽ sụp đổ.
Đối với điềm báo thuộc loại này hay bất cứ điềm báo nào, cũng sẽ có người tin và không tin, vì thiên cơ vốn là điều không thể để con người dễ dàng biết được, cũng như Đổng Trác kia, điềm báo rành rành trước mặt mà còn không hay không biết.
Kỳ thực chúng ta xem thử các dự ngôn trong ngoài nước xưa nay, đại đa số đều là theo cách nói ẩn giấu, nhưng hôm nay rõ ràng đến như vậy, đây rốt cuộc là sự kiện gì? Tôi nghĩ rằng, càng rõ ràng thì chứng minh rằng sự việc càng khẩn cấp, thời gian càng khẩn cấp, nguy nan cực kì lớn, vậy nên ngay cả tảng đá còn muốn nói thẳng rằng Trung Cộng sắp diệt vong, để cảnh tỉnh người đời, vì sự diệt vong này là do ý trời, là thiên định.
Làn sóng thoái Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đang ngày càng dâng cao, cuồn cuộn như tức nước vỡ bờ, không sao ngăn cản được, đến nay đã gần 200 triệu người can đảm thoái xuất khỏi ĐCSTQ.
ĐCSTQ qua hơn 60 năm cai trị, gieo tai tương thảm sát kinh hoàng khắp nơi, cây chết để mọc lên “thị trấn ma”, sông ngòi cạn đục để nuôi “những nhà máy độc hại”, tham quan không ngừng đục khoét toàn bộ cỗ máy điều hành, người dân bị lừa phỉnh, bịt miệng mà chẳng dám kêu than, nhưng sự ai oán trong lòng là không thể che giấu.
Nay ý trời đã định, ĐCSTQ sẽ bị vùi trong bão tố, chỉ còn ráng sức kéo dài hơi tàn. Chứng kiến tình thế trước mắt, những ai còn là thành phần của đảng này hãy suy nghĩ cho thật kỹ, đừng có vì nhất thời hồ đồ mà đi theo vết xe đổ của Đổng Trác, để rồi chết theo ĐCSTQ, đến lúc ấy ngay cả Đổng Trác cũng sẽ cười nhạo các vị ngu xuẩn như ông ta.
Tác giả: Tư Tưởng
Tiểu Thiện, dịch từ Epoch Times