Thứ Bảy, 5 tháng 3, 2016

BÀI 14 : Những điều nhân gian ứng nghiệm đúc kết đồn truyền

Avatar của nanaDoan_99
nanaDoan_99
23/12/2015 05:22 PM
Tất nhiên có thể ko còn hợp với ngày nay nữa. Một số điều cũng chỉ mang tính tham khảo, xem qua cho biết. Nhưng cũng có một số điều khá hợp lý.
Bạn đã biết hết chưa?
1. Kiêng xuất tiền của, vay nợ mượn nợ
Vào ngày đầu tháng, mọi người thường kiêng xuất tiền của vì sợ bị “dông” cả tháng. Tương tự như vậy, dân gian kiêng đi vay mượn, đi trả nợ.
2. Kiêng thịt chó
Theo quan niệm dân gian, nếu ăn thịt chó vào ngày đầu tháng (từ mồng 1 – mồng 10) thì sẽ bị hãm tài, xúi quẩy, bệnh tật lâu khỏi, mất của, không may…
3. Kiêng gặp người nặng vía, khó tính, keo kiệt
Vào buổi sáng sớm, nếu có việc phải đi xa, đi buôn bán, đi làm ăn.. thì người ta rất kỵ ra ngõ gặp người vía dữ, khó tính, keo kiệt. Để tránh gặp phải vía dữ, người ta sẽ hẹn với một người (có tình tình cởi mở, hay gặp may mắn) đứng đón ở ngõ khi người này đi ra thì người đón ngõ sẽ chào hỏi và chúc lên đường may mắn.
4. Kiêng ngã giá mua hàng rồi bỏ đi
Người buôn bán rất kỵ việc vào buổi sáng sớm có khách tới xem hàng, đã thỏa thuận giá cả nhưng lại không mua hàng nữa. Họ quan niệm như vậy thì trong cả ngày đó việc buôn bán sẽ gặp xúi quẩy. Để xua đuổi sự xúi quẩy này người bán hàng sẽ phải “đốt vía” bằng cách vơ vội nắm rác hay que đóm, tờ giấy… quanh đó rồi châm lửa đốt ngay trước mặt người mua hàng vô duyên đó.
5. Kiêng nói bậy, chửi tục
Nói bậy chửi tục chắc chắn cũng phản ánh một phần nào đó văn hóa của mỗi người. Đây cũng là điều mà rất nhiều người kiêng kỵ để không xuất hiện trong những ngày đầu tháng. Nhiều người quan niệm nếu đầu tháng mà
6. Kiêng đánh vỡ bát đĩa, ấm chén
Ông bà ta quan niệm, từ vỡ, bể là những từ tạo nên sự chia cắt, đứt lìa trong gia đình. Vì thế, trong ngày đầu tháng không được đánh vỡ bát đĩa, ấm chén, cãi nhau, chửi nhau, kiêng những điều không vui xảy ra với gia đình.
7. Kiêng không nói tới điều rủi ro
Nhiều người rất kiêng kỵ việc nói tới những điều rủi ro trong ngày đầu tháng vì sợ rằng cả tháng cũng sẽ gặp phải rủi ro như lời đã nói.
(tổng hợp)
Khi xây nhà, mua nhà, tuyệt đối tránh 10 điều này
Mẹo nhìn mặt đoán tính cách người khác chỉ trong 3 giây
10 dấu hiệu nhận diện tướng phụ nữ có "phúc trời sinh"
Giải mã ý nghĩa 43 nốt ruồi trên GƯƠNG MẶT phụ nữ
Nhìn đầu ngón tay đoán giàu hay nghèo

Chủ Nhật, 20 tháng 12, 2015

:BÀI THỨ 13 : NGHIÊN CỨU GIA CÁT LƯỢNG BÁI SƯ HỌC ĐẠO Tác giả: Phúc Chính

Truyền thuyết dân gian: Gia Cát Lượng bái sư học Đạo

 
Tác giả: Phúc Chính

[Chanhkien.org] Gia Cát Lượng là một nhà quân sự nổi tiếng phò tá Lưu Bị của nhà Thục Hán thời Tam Quốc (220-280 SCN). Ông thường được mô tả là mặc một chiếc áo choàng dài và tay phe phẩy chiếc quạt bằng lông hạc.
Hồi nhỏ, khi Gia Cát Lượng lên 8, 9 tuổi vẫn chưa biết nói, gia cảnh lại nghèo, do đó phụ thân ông đã để ông chăn cừu trên một ngọn núi ở gần đó.
Trên núi có một đạo quán, trong đạo quán có một lão đạo sĩ tóc bạc. Lão đạo sĩ mỗi ngày đều ra ngoài đi du ngoạn. Một ngày nọ, ông trông thấy Gia Cát Lượng và thử trêu đùa cậu bé, thì cậu bé cũng đùa lại với ông. Từ đó Gia Cát Lượng và lão đạo sĩ thường trò chuyện với nhau bằng cách ra dấu tay. Lão đạo sĩ thấy Gia Cát Lượng thông minh khả ái nên đã tiện thể trị bệnh cho cậu. Không lâu sau, bệnh câm của Gia Cát Lượng đã được chữa khỏi.
Khi có thể nói được, Gia Cát Lượng vô cùng cao hứng; cậu hướng về lão đạo sĩ để bái tạ. Lão đạo sĩ nói: “Hãy về nhà nói với cha mẹ rằng ta sẽ thu con làm đồ đệ, dạy con biết đọc biết viết, học thiên văn địa lý, và phép dùng binh bằng Âm Dương Bát Quái. Nếu cha mẹ con đồng ý, thì hằng ngày con hãy đến đây học, không được bỏ buổi nào.”
Kể từ đó, Gia Cát Lượng bái lão đạo sĩ làm sư phụ. Bất chấp gió mưa, hàng ngày Gia Cát Lượng đều lên núi nghe giảng. Cậu thông minh hiếu học, chuyên tâm ghi nhớ, sách chỉ xem qua là đã hiểu, nghe giảng xong là đã nhớ. Vì thế lão đạo sĩ ngày càng thêm quý mến cậu.
Nháy mắt đã bảy, tám năm trôi qua.
Một ngày nọ, khi Gia Cát Lượng đang xuống núi và đi qua một cái “am” bỏ hoang, thì bất ngờ một trận cuồng phong thổi tới, kèm theo mưa gió rợp trời dậy đất. Gia Cát Lượng vội lánh vào trong am để trú mưa, thì bỗng nhiên, một người con gái cậu chưa từng trông thấy tới nghênh đón cậu vào trong nhà. Chỉ thấy cô gái này mày nhỏ mắt to, mảnh mai kiều diễm, tựa như tiên nữ hạ phàm. Gia Cát Lượng cảm thấy bị cuốn hút bởi cô gái. Khi trời tạnh mưa, cô gái tiễn cậu ra cửa, cười nói: “Hôm nay chúng ta coi như đã biết nhau. Từ nay về sau khi lên núi xuống núi thì xin hãy qua đây nghỉ ngơi và dùng trà.” Lúc Gia Cát Lượng từ trong “am” đi ra ngoài thì thấy có hơi chút kỳ quái, làm sao nơi chưa từng đến này lại có người ở.
Từ đó về sau, mỗi lần Gia Cát Lượng tới am, người con gái không chỉ ân cần tiếp đãi, mà còn có thịnh tình muốn giữ lại dùng cơm. Ăn cơm xong hai người không chỉ cười nói mà còn đánh cờ giải khuây. So với đạo quán, nơi đây quả thực là một thế giới khác hẳn. Gia Cát Lượng bắt đầu mê muội mà không tự nhận ra.
Tâm trí Gia Cát Lượng trở nên bị ảnh hưởng, và cậu cảm thấy chán nản khi học tập. Sư phụ giảng đến đâu thì quên đến đó, lời giảng đi vào tai này rồi xuất ra tai kia, không thể ghi nhớ, lúc đọc sách thì không biết là nói về cái gì, càng xem càng không nhớ.
Lão đạo sĩ biết có vấn đề, bèn gọi Gia Cát Lượng đến, thở dài một tiếng rồi nói: “Hủy cây thì dễ, trồng cây thì khó. Ta đã tốn quá nhiều công sức vì ngươi rồi.”
Gia Cát Lượng nghe sư phụ nói biết có chuyện, vội cúi đầu nói: “Sư phụ! Con sẽ không cô phụ một phen khổ tâm của ngài.”
“Lời này hiện tại ta không thể tin”, lão đạo sĩ nhìn Gia Cát Lượng và nói. “Ta thấy ngươi là đứa trẻ thông minh, định dạy ngươi thành tài, nên mới trị bệnh cho ngươi, thu ngươi làm đồ đệ. Mấy năm trước ngươi thông minh cần mẫn, sư phụ ta khổ tâm dạy ngươi cũng không cảm thấy khổ; nào ngờ giờ đây ngươi từ cần mẫn thành lười nhác, tuy thông minh mà cũng uổng công, lại còn nói sẽ không cô phụ một phen khổ tâm của ta, ta tin sao được?”
Lão đạo sĩ lại nói: “Gió không thổi, cây không động, thuyền không đảo, nước không đục.” Nói rồi chỉ vào cây cổ thụ bị rất nhiều dây mây cuốn vào ở trong sân cho Gia Cát Lượng xem. “Ngươi xem, cái cây kia tại sao sống dở chết dở, không thể tăng trưởng lên được?”
“Bởi vì dây mây cuốn rất chặt vào nó khiến nó không lớn được”, Gia Cát Lượng đáp.
“Đúng rồi, cái cây này ở trên núi, nơi đất đá khô cằn, rất cực khổ nhưng vẫn sống tốt vì nó quyết chí mọc rễ xuống dưới, đâm cành lên trên, không sợ nóng, không sợ lạnh, nên càng ngày càng cao lớn. Thế nhưng cái dây mây chỉ cuốn một lúc mà nó đã không lớn lên được, đây gọi là ‘lạt mềm buộc chặt’ đấy!”
Vốn thông minh nhanh trí, Gia Cát Lượng không giấu giếm mà hỏi ngay sư phụ: “Sư phụ, sao ngài biết chuyện?”
Lão đạo sĩ nói: “Gần nước biết tính cá, gần núi rõ tiếng chim. Ta xem thần sắc ngươi, quan sát hành động của ngươi, còn không biết tâm sự của ngươi hay sao?” Lão đạo sĩ ngừng lại một lúc rồi nghiêm sắc mặt, nói: “Nói thật cho ngươi rõ, đứa con gái mà ngươi thích kia chẳng phải là người, nó nguyên là một con tiên hạc trên Thiên Cung, chỉ vì ăn vụng hội bàn đào của Vương Mẫu mà bị Thiên Cung đánh hạ xuống để chịu khổ. Tới nhân gian, nó hóa thành mỹ nữ, văn võ thì không, cày bừa chẳng biết, chỉ biết tầm hoan tác nhạc. Ngươi thấy tướng mạo nó đẹp, nhưng nó chỉ biết có ăn ngủ thôi. Ngươi cứ thần hồn điên đảo thế này, cuối cùng chẳng làm nên trò trống gì đâu. Nếu không theo nó chiều ý nó, nó còn làm hại ngươi.”
Gia Cát Lượng nghe xong sợ quá, vội hỏi xem phải làm sao.
Lão đạo sĩ nói: “Con tiên hạc này có thói quen, là mỗi khi đêm đến thì nó hiện nguyên hình, bay lên thiên hà tắm rửa. Lúc ấy, ngươi tiến vào phòng nó, lấy y phục nó đem đốt đi, y phục nó là mang từ trên Thiên Cung xuống. Bị đốt rồi thì nó không thể hóa thành mỹ nữ được nữa.”
Gia Cát Lượng nghe lời sư phụ dặn dò và rời đi. Trước khi đi, lão đạo sĩ đưa cậu một cây gậy đầu rồng và nói: “Con hạc này khi phát hiện trong am phát hỏa, sẽ lập tức từ thiên hà phi trở xuống, gặp ngươi đang đốt xiêm y của nó, tất không chịu thua. Nếu nó làm hại ngươi, hãy dùng quải trượng này đánh nó, nhớ đấy!”
Giờ Tý đêm hôm đó, Gia Cát Lượng nhẹ nhàng vào trong am, mở cửa phòng, quả nhiên thấy trên giường có một bộ xiêm y, nhưng không thấy người đâu. Cậu lập tức nhóm lửa đốt cháy bộ xiêm y.
Tiên hạc đang lúc tắm rửa trên thiên hà, đột nhiên thấy trong lòng bất an, vội vàng đi xuống nhìn quanh thì thấy trong am có lửa, vội vàng hét to rồi phi trở xuống. Khi thấy Gia Cát Lượng đang đốt xiêm y, nó nhào tới và dùng mỏ mổ vào mắt Gia Cát Lượng. Gia Cát Lượng nhanh mắt nhanh tay, cầm lấy quải trượng, lập tức đánh con hạc rớt xuống đất. Cậu vội chìa tay ra chộp nhưng chỉ nắm được cái đuôi. Tiên hạc liều mạng vùng vẫy thoát ra, vỗ cánh thật mạnh rồi bay vọt lên không trung, nhưng đám lông đuôi thì bị Gia Cát Lượng giứt đứt hết.
Tiên hạc bị cụt đuôi, không còn giống những tiên hạc khác trên Thiên Cung nữa nên vô cùng xấu hổ. Từ đó nó không dám lên thiên hà tắm rửa nữa, cũng không thể biến lại thành mỹ nữ vì đã bị đốt mất xiêm y, đành vĩnh viễn ở tại nhân gian, chui vào lẫn lộn với bầy bạch hạc.
Từ đó Gia Cát Lượng không quên bài học này, đem đám lông đuôi tiên hạc đi cất giữ cẩn thận, lấy đó làm tấm gương để răn mình.
Từ đó về sau Gia Cát Lượng ngày càng cần mẫn, phàm sư phụ giảng gì, đọc sách gì thì đều ghi nhớ, tâm lĩnh thần hội, biến chúng thành thứ của bản thân mình. Lại qua một năm nữa, đúng vào ngày Gia Cát Lượng đốt họa bì của mỹ nữ, lão đạo nhân cười nói với Gia Cát Lượng: “Đồ đệ này, ngươi theo ta đã chín năm rồi, sách gì cần đọc thì đã đọc rồi, điều gì cần truyền thụ thì đã nghe rồi. Có câu nói ‘sư phụ lĩnh tiến môn, tu hành tại cá nhân’, ngươi nay đã 18 tuổi rồi, còn cần lập gia đình, ngươi hãy tự mình xử lý mọi việc.”
Gia Cát Lượng thấy sư phụ nói đã “học xong”, bèn vội vàng khẩn cầu, nói: “Sư phụ, đồ đệ càng học càng thấy học thức nông cạn, con nguyện ở lại với ngài học thêm bản lĩnh.”
“Bản lĩnh chân chính cần phải trong khi thực hành mới có thể đạt được. Sách đã học rồi, còn cần xem Trời Đất thiên biến vạn hóa thế nào, tùy thời mà chuyển, tùy cơ ứng biến, mới có thể hữu dụng được! Hãy lấy con tiên hạc kia làm bài học giáo huấn, từ nay chớ lại để tình sắc làm mê đắm nữa, đây là giáo huấn trực tiếp; hết thảy sự việc trên đời đều không được để giả tướng mê hoặc, nhất định phải xử lý cẩn thận, phải thấy rõ bản chất mới được. Đây coi như lời dặn dò lúc chia tay! Hôm nay ta phải đi đây!”
“Sư phụ, ngài định đi đâu?” Gia Cát Lượng kinh ngạc hỏi. “Từ nay con biết đến đâu tìm ngài?”
“Vân du bốn biển, không có định hướng”, lão đạo sĩ đáp.
Nhất thời không biết làm sao, Gia Cát Lượng nước mắt tuôn rơi, nói: “Sư phụ nhất định phải đi, thì xin nhận đồ đệ một bái, gọi là cảm tạ đại ân dưỡng dục.”
Gia Cát Lượng cúi mình làm lễ, lễ xong ngẩng đầu lên thì đã không thấy sư phụ đâu nữa. Từ đó cũng không nghe nói tung tích của lão đạo sĩ nữa.
Lão đạo sĩ trước khi đi đã đưa cho Gia Cát Lượng một vật, chính là bộ y phục Bát Quái mà sau này ông thường xuyên mặc.
Gia Cát Lượng hoài niệm sư phụ, thường mang chiếc áo Bát Quái trên người, coi như vĩnh viễn cõng sư phụ trên lưng. Gia Cát Lượng không quên giáo huấn của sư phụ, nhất là lời dặn dò lúc chia tay, đặc biệt thường mang theo mình chiếc quạt bằng lông vũ, không rời khỏi tay, để tự răn mình phải hành sự thận trọng. Đây chính là lai lịch chiếc quạt lông vũ trên tay Gia Cát Lượng.

http://www.zhengjian.org/zj/articles/2005/7/14/33082.html
http://www.pureinsight.org/node/3170

Thứ Ba, 3 tháng 11, 2015

BÀI 11

Linh hồn trong 49 ngày họ sẽ thế nào ? Ta cần làm gỉ để giúp họ ?
" Linh hồn còn trong 49 ngày
Cứ 1 tuần (1 thất) thì họ sẽ tái hiện cái chết 1 lần, điều này làm họ rất đau khổ, nhất là những người tự tử và chết vì tai nạn… và hạn cuối cùng là thất cuối cùng (tức 49 ngày) thì họ sẽ đi đầu thai về các cửa khác nhau...



VÌ SAO NGỪƠI CHẾT 49 NGÀY MỚI ĐI ĐẦU THAI ? ( CỰC Ý NGHĨA ) Nghe tại:https://youtu.be/oiFEzZs…
YOUTUBE.COM

BÀI THỨ 10 Gia Cát Lượng vì sao có thể biết được thiên tượng sau hai nghìn năm?

Đối với nhiều người khi xem “Tam Quốc diễn nghĩa”, điều khó hiểu nhất có lẽ chính là việc những điều chưa hề xảy ra mà đã biết trước. Ví như chuyện Gia Cát Lượng ở vùng Long Trung, dẫu chưa từng ra khỏi cửa mà đã biết thiên hạ sẽ chia ba. Điều lạ nữa là thời bấy giờ rõ ràng là không có báo chí, không có đài phát thanh, cũng không hề có điện báo, vậy mà đại sự trong thiên hạ không gì lọt ra khỏi mắt những kì nhân này.

thiên cơ, Tam quốc diễn nghĩa, nhật thực, mã tiền khóa, Khổng Minh, Gia Cát Lượng, công năng đặc dị, Bài chọn lọc,
“Mã Tiền Khóa” của Gia Cát Lượng khẳng định là dự ngôn thật thật tại tại cao sâu khó lường. Hai nghìn năm nay, dự ngôn “Mã Tiền Khóa” chuẩn xác phi thường. (Ảnh: Internet)
“Tam Quốc diễn nghĩa” hồi thứ 57: Lại nói Khổng Minh ở Kinh Châu, đêm quan sát thiên văn, thấy sao rơi xuống đất, liền cười nói: “Chu Du đã chết rồi”. Đến sáng, nói lại với Huyền Đức. Huyền Đức cử người đi thám thính, quả nhiên xác nhận người đã chết rồi. Huyền Đức hỏi Khổng Minh, rằng: “Chu Du đã chết, mọi chuyện sẽ thế nào?”. Khổng Minh nói: “Người lãnh binh thay Chu Du, ắt là Lỗ Túc. Lượng quan sát thiên tượng, sao Tương tụ ở phương đông. Lượng sẽ lấy cớ viếng tang sang Giang Đông một chuyến, để tìm hiền sĩ phò trợ chúa công”. Huyền Đức nói: “Chỉ e là tướng sĩ quân Ngô sẽ gia hại tiên sinh”. Khổng Minh nói: “Khi Du còn sống, Lượng còn không sợ, nay Du đã chết, lại còn lo gì?”.
Sau đó liền cùng Triệu Vân dẫn theo năm trăm quân sĩ, chuẩn bị tế lễ, xuống thuyền đến Ba Khâu đưa tang. Trên đường đi, thám thính được Tôn Quyền đã lệnh Lỗ Túc làm đô đốc, linh cữu Chu Du đã đưa về Sài Tang. Đoạn này nói Gia Cát Lượng nhìn thấy sao Tương rơi liền biết được Chu Du đã chết, đồng thời, ông đối với chuyến đi sang Đông Ngô này không hề cảm thấy lo sợ. Tại sao như vậy, bởi ông sớm đã biết được đi đến Đông Ngô, dẫu cho bao nhiêu người căm hận ông, nhưng mạng sống của ông không hề gì.
Hồi thứ 63: Lại nói Khổng Minh ở Kinh Châu, ngày đó là tết Thất tịch, chúng quan mở đại hội dạ yến, đang nói chuyện thu hồi Kinh Châu. Bỗng nhiên một ngôi sao hướng về phía Tây, to như cái đấu, từ trời rơi xuống, ánh sáng tỏa ra bốn phía. Khổng Minh thất kinh, ném ly xuống đất, ôm mặt khóc rằng: “Bi ai thay! Đau xót thay!”. Chúng quan hoảng hốt hỏi duyên cớ. Khổng Minh nói: “Trước đây tôi đoán rằng năm nay sao Thiên Cương ở hướng Tây, bất lợi cho quân sư; thiên cẩu xâm phạm quân ta, sao Thái Bạch ở gần Lạc Thành, tôi đã gửi thư cho Chúa công, bảo phải đề phòng cẩn thận. Ngờ đâu đêm nay phía Tây sao rơi, mạng sống của Bàng Sĩ Nguyên ắt đã chấm hết rồi!”. Nói xong, lớn tiếng khóc rằng: “Hôm nay, chúa công chúng ta đã mất một cánh tay rồi!”. Chúng quan đều thất kinh, chưa tin lời ông nói. Khổng Minh nói: “Trong mấy ngày nữa, ắt có tin tức”. Tiệc rượu chưa trọn hoan vui mà phải giải tán. Mấy ngày sau, quả nhiên có tin báo rằng quân sư Bàng Thống bị tên bắn chết trước gò Lạc Phượng. Thiết nghĩ rằng nếu như Gia cát Lượng không có đoán chính xác, trước hết khóc lớn, về sau nếu như Bàng Thống không có chết, không phải tự làm mình mất mặt, sau này còn làm sao mà quân lệnh như sơn được nữa? Trong “Tam Quốc diễn nghĩa”, Quan Vũ, Trương Phi trước khi chết, Gia Cát Lượng đồng dạng thông qua tinh tượng mà biết trước điềm hung.
Hồi thứ 103: Đang đêm, Khổng Minh thân ôm bệnh ra khỏi lều, ngẩng đầu quan sát thiên văn, vô cùng kinh hãi; vào lều bảo với Khương Duy rằng: “Mệnh ta nội trong sớm tối nay mà thôi!”.Duy nói: “Thừa tướng sao lại nói những lời như vậy?”. Khổng Minh nói: “Ta thấy trong sao Tam Đài, sao khách sáng lạn gấp bội, sao chủ u tối, các chòm sao vốn tương phụ nhau, ánh sáng của nó đã mờ tối. Thiên tượng như vậy, mệnh ta có thể tự rõ được!”. Ngay trong lúc này, Tư Mã Ý, một đối thủ trong trận doanh khác đang thủ vững trong doanh trại, bỗng một đêm ngẩng nhìn lên quan sát thiên văn, vô cùng mừng rỡ, nói với Hạ Hầu Bá rằng: “Ta thấy sao Tương mất vị trí, Khổng Minh ắt bị bệnh nặng, không lâu sẽ chết” … Khổng Minh vứt kiếm mà than rằng: “Sống chết có số, không thể cưỡng cầu được mà!”. Ngay đêm hôm đó, Khổng Minh lệnh người dìu ra bên ngoài, ngẩng đầu nhìn sao Bắc Đẩu, chỉ về một ngôi sao xa xôi, nói: “Đây là tướng tinh của ta đó”. Mọi người nhìn theo, chỉ thấy nó màu sắc u tối , lung lay muốn đổ. Quả nhiên đêm đó, Gia Cát Lượng quy thiên.
Nếu như nói “Tam Quốc diễn nghĩa” chỉ là tiểu thuyết, như vậy thì “Mã Tiền Khóa” của Gia Cát Lượng khẳng định là dự ngôn hoàn toàn có thật, cao sâu khó lường. Hai nghìn năm nay, dự ngôn “Mã Tiền Khóa” chuẩn xác phi thường. Thế là mọi người bèn hoài nghi “Mã Tiền Khóa” là người đời sau dựa vào lịch sử đã qua mà biên tạo thành. Tuy nhiên, đến thời Minh mạt Thanh sơ, đại văn hào Kim Thánh Thán đã bình luận “Mã Tiền Khóa”.
Lúc này khóa thứ 9 đến khóa thứ 14 trong “Mã Tiền Khóa” vẫn chưa thành hiện thực.
Khóa thứ 9 rằng: “Thủy nguyệt hữu chủ, cổ nguyệt vi quân, thập truyền tuyệt thống, tương kính như tân”, tức nước trăng có chủ, trăng cổ làm vua, truyền mười tuyệt sạch, kính nhau như khách. Khóa thứ 10 rằng: “Chư hậu ngưu tiền, thiên nhân nhất khẩu, ngũ nhị đảo trí, bằng lai vô cữu”, tức lợn sau trâu trước, nghìn người một miệng, năm sau đảo ngược, bạn đến không trách. Kim Thánh Thán đổi với chữ “thống” của “Thập truyền tuyệt thống” làm, ra nhiều cái suy đoán, nhưng ông đâu có thể ngờ được rằng chữ “thống” này tức là Hoàng đế Tuyên Thống. Mãn Thanh kết thúc bởi hoàng đế Tuyên Thống, thật là tuyệt diệu!.
“Thiên nhân nhất khẩu” trong khóa thứ 10, là chữ “Hòa” không còn gì phải nghi ngờ nữa. Như vậy năm 1911 là năm Hợi, năm 1913 là năm con trâu, chính giữa không phải chính là năm 1912 hay sao? Mà nước cộng hòa đầu tiên ở châu Á vừa khéo lại thành lập vào năm 1912, không hề sai chạy chút nào. Lúc này thời Gia cát Lượng đã mất gần hai nghìn năm rồi. Sao ông lai có thể đoán được chuẩn xác như vậy?
Nhiều năm nay, mọi người chỉ biết sự thần kỳ trong các lời dự ngôn nhưng không một người nào nói ra được đạo lý trong các lời dự ngôn đó. Ông Lý Hồng Chí, người sáng lập Pháp Luân Công, là người đầu tiên dùng đạo lý khoa học đã nói rõ tính chân thật của dự ngôn. Trong Chuyển Pháp Luân, ông nói: “Trên thế giới hiện nay có sáu loại công năng đã được công nhận, trong đó có thiên mục, dao thị, và còn có túc mệnh thông. Sao lại gọi là ‘túc mệnh thông’? Ấy là có thể biết được tương lai và quá khứ của cá nhân; lớn nữa thì có thể biết được sự thịnh suy của xã hội; còn lớn hơn nữa thì có thể thấy được những quy luật biến hoá của toàn thiên thể; đó chính là ‘công năng túc mệnh thông’.
Sự thành lập của nước cộng hòa đầu tiên của châu Á, khiến người đời sau thể hội được thần cơ diệu đoán của Gia Cát Lượng một cách rõ ràng chính xác. Mấy nghìn năm nay, mọi người biết có các loại thần cơ, nhưng không một người nào có thể nói ra đạo lý. Ông Lý với cách thức giản lược dễ hiểu đã nói ra vấn đề trong hàng trăm nghìn năm nay mọi người không thể lý giải được. Dựa vào cách nói của ông, Gia Cát Lượng chính là người có công năng túc mệnh thông rất cao thâm, thông qua công năng đã nhìn thấy trước quy luật biến hóa của thiên thể của một hai nghìn năm sau này, thế là dựa vào kết quả biết trước lại thiết lập nên những ẩn dố, chỉ có đến khi lịch sử đã trải qua rồi, người phàm mới có thể hiểu ra trọn vẹn. Chúng ta bây giờ của hai nghìn năm sau, sau khi đã biết được sự thần kỳ trong “Mã Tiền Khóa” của Gia Cát Lượng rồi đi xem lại việc ông vì sao có thể trả lời khi ở Long Trung, thì không khó lý giải nữa.
Bây giờ chúng ta lại xem những năm gần đây này. Thời cận đại trở lại đây, chỉ trong mấy năm đã xuất hiện ba lần hoặc bốn lần nhật thực, như thế nhân gian tất nhiên có tai nạn lớn. Mà từ 2007 đến năm 2012 lại đã xuất hiện 6 lần nhật thực toàn phần, thời gian nhật thực toàn phần kéo dài đến 6 phút 39 giây, là thiên tượng 2132 năm mới có một lần. Loại thiên tượng này nhất định báo trước sự biến hóa đáng sợ trong nhân gian, hoặc chính là đại ôn dịch trong mấy năm nay sẽ quét ngang toàn thế giới như trong dự ngôn của Lưu Bá Ôn. Còn có rất nhiều dự ngôn đều báo trước sẽ có tai nạn cực lớn xảy ra. Người phàm không biết được ý nghĩa của nó, nhưng vùng đất Thần Châu nhất định có người biết được thiên ý trong những dự ngôn và những gì được báo trước trong 6 lần nhật thực này.
thiên cơ, Tam quốc diễn nghĩa, nhật thực, mã tiền khóa, Khổng Minh, Gia Cát Lượng, công năng đặc dị, Bài chọn lọc,
Nhật thực toàn phần được chụp tại Na-uy ngày 20/3/2015. (Ảnh: Internet)
Trên trang Chánh Kiến, người ta cũng vô tình bắt gặp rất nhiều bài viết nhắc nhở con người thế gian sẽ có một cuộc đại đào thải đến thế gian. Gia Cát Lượng có thể biết trước được sự việc sau hai nghìn năm, như vậy những cao nhân của ngày hôm nay sao lại không thể biết trước sự tình sau mấy năm nay được?
Nếu như những gì được nói đến là thật, như vậy khi kiếp nạn to lớn nếu phát sinh, giống như thành cổ La Mã vậy, mọi người thấy mặt nhau liền chết, đó thật là đáng sợ biết dường nào. Đối mặt với cảnh tượng hỗn loạn của cái thời đạo đức con người bại hoại nhất của lịch sử ngày nay, liệu chúng ta không nên cẩn trọng suy nghĩ đến những dự ngôn và những lời cảnh tỉnh kia hay sao?
Dịch từ zhengjian.org

Những lời “Sấm truyền” nổi tiếng của Gia Cát Lượng


Giới thiệu: Dự ngôn «Mã Tiền Khóa» (马前课) là do Thừa tướng Gia Cát Lượng nhà Thục Hán thời Tam Quốc sáng tác. Nhắc đến Gia Cát Lượng, có thể nói là nhà nhà đều biết, nhưng không nhiều người biết về «Mã Tiền Khóa».

Tương truyền Gia Cát Lượng vào lúc nhàn hạ trong quân đã sáng tác «Mã Tiền Khóa» (tên «Mã Tiền Khóa» có nghĩa là “quẻ bói gieo trước ngựa”). «Mã Tiền Khóa» ngắn gọn súc tích phi thường, chỉ có 14 khóa, mỗi khóa dự ngôn một thời đại lịch sử, mà mỗi một khóa lại tuân theo một trật tự sắp xếp. Khi mỗi thời đại lịch sử qua đi rồi, người ta quay lại xem mới thấy Gia Cát Lượng dự ngôn chuẩn xác đến phi thường.
Văn hóa, Trung Quốc, Tiền Mã Khóa, sấm truyền, Gia Cát Lượng,
Chân dung Gia Cát Lượng.  

Liệu sự như thần

Tài năng của Khổng Minh đâu chỉ dừng ở những lĩnh vực ấy. Với người Trung Quốc, Gia Cát Lượng còn là nhà tiên tri vô cùng vĩ đại. Ông được mệnh danh là người “trên thông thiên văn, dưới tường địa lý”, có tài tiên đoán mọi việc cực chuẩn xác.
Nói về kỳ tài “liệu sự như thần” của Khổng Minh, dân gian Trung Quốc hãy còn lưu truyền một câu chuyện khá thú vị.
Tương truyền, trước lúc lâm chung, Gia Cát Lượng dặn dò con cháu: “Sau khi ta chết, trong số các con sẽ gặp phải đại họa chết người. Tới lúc ấy, hãy dỡ nhà, lấy từ trong tường ra một bọc giấy, trong đó có cách cứu mạng”. Sau khi ông qua đời, Tư Mã Viêm lên ngôi hoàng đế. Nghe tin trong số quan quân triều đình có viên tướng quân là hậu thế của Gia Cát Lượng, Viêm bèn nghĩ cách trừng trị người này.
Một hôm, Tư Mã Viêm tìm cớ định tội chết cho viên tướng nhà Gia Cát. Trên Kim điện, Viêm cất lời hỏi: “Trước khi chết, tổ phụ nhà ngươi đã nói những gì?”. Kẻ “tội đồ” bèn thật thà truyền đạt tới vua lời dặn dò của Gia Cát Lượng. Nghe thấy vậy, Tư Mã Viêm bèn ra lệnh cho quân lính dỡ nhà, lấy bọc giấy ra xem. Bên trong chỉ có một phong thư kín, phía trên viết rằng: “Ngộ hoàng nhi khai” (nghĩa là đúng hoàng thượng mới mở ra xem). Đám binh sĩ bèn dâng thư lên vua. Trong thư có mấy chữ: “Xin lùi ba bước”. Tư Mã Viêm lập tức làm theo. Vừa đứng vững đã nghe thấy một tiếng “rầm”, chiếc xà rơi thẳng xuống chỗ vua ngồi, khiến bàn ghế tan tành. Viêm trông thấy vậy mà sợ hãi lạnh người, rồi lại xem tiếp những dòng ở cuối thư: “Ta cứu mạng ngươi, ngươi hãy giữ lại mạng sống của con cháu ta”. Xem xong thư, Tư Mã Viêm thầm thán phục tài tiên đoán như thần của Gia Cát Khổng Minh rồi ra lệnh phục nguyên chức cho vị tướng quân này.
Còn theo Bách Khoa toàn thư mở, Khổng Minh bỗng lâm bệnh nặng khi ra Kỳ Sơn lần thứ 6. Biết mệnh sắp tàn, ông cho gọi tướng tài Khương Duy vào truyền thụ 24 thiên binh thư của mình. Gia Cát Lượng còn cẩn thận dặn dò các tướng quân phải nêu cao cảnh giác, đề phòng mối nguy quân Ngụy tấn công, Ngụy Diên trở mặt làm phản rồi bày cho diệu kế đối phó.
Quả nhiên, mọi lo lắng, tiên liệu của ông trước khi qua đời đều thành hiện thực. Ngụy Diên tráo trở làm phản, nhưng vì nghe lời căn dặn của quân sư, Mã Đại đã chém chết Diên.
Lại nói, khi Tư Mã Ý hô quân tới đánh, bên Thục bèn đẩy xe có tượng gỗ của Khổng Minh ra trận, khiến Ý hoang mang lo sợ rồi tháo chạy. Nhờ đó, quân Thục bình an vô sự rút về Thành Đô.
Thêm lần nữa, tài tiên liệu hơn người của Gia Cát Lượng đã bảo toàn mạng sống cho quân binh và cứu vãn thế sự cho cả vương triều. Để tưởng nhớ công lao to lớn của ông, dân gian lưu truyền câu nói: “Gia Cát chết vẫn đuổi được Trọng Đạt sống”.

Bí ẩn những lời “sấm truyền” trong “Tiền Mã Khóa”

Văn hóa, Trung Quốc, Tiền Mã Khóa, sấm truyền, Gia Cát Lượng,
Sau đây là phần giải nghĩa:
Khóa 1 ○●●●●○ Trung Hạ
Vô lực hồi thiên
Cúc cung tận tụy
Âm cư Dương phất
Bát thiên nữ quỷ
Tạm dịch:
Không sức đổi Trời
Còng mình gắng sức
Âm tồn Dương phất
Tám ngàn nữ quỷ
Giải: “Vô lực hồi thiên, Cúc cung tận tụy” là nói bản thân Gia Cát Lượng, như ông viết trong «Xuất sư biểu»: “Thần cúc cung tận tụy, đến chết mới thôi“. “Âm cư Dương phất” chỉ hoạn quan Hoàng Hạo loạn quyền, Khương Duy chỉ có thể duy trì tàn cục chứ không thể làm gì được. “Bát thiên nữ quỷ” (八千女鬼) chính là chữ “Ngụy” (魏), chỉ nước Ngụy diệt Thục Hán.
Khóa 2 ○●○○●○ Trung Hạ
Hỏa thượng hữu hỏa
Quang chúc Trung Thổ
Xưng danh bất chính
Giang Đông hữu hổ
Tạm dịch:
Trên lửa có lửa
Rọi sáng Trung Thổ
Xưng danh bất chính
Giang Đông có hổ
Giải: “Hỏa thượng hữu hỏa”, trên “hỏa” (火) có “hỏa” (火) chính là chữ “Viêm” (炎). Chỉ Tư Mã Viêm lập nên triều Tấn. “Xưng danh bất chính” chỉ triều Tấn của Tư Mã Viêm thực chất là soán ngôi Tào Ngụy mà kiến lập, mà Tào Ngụy lại là soán ngôi triều Hán mà kiến lập, danh không chính ngôn không thuận. “Giang Đông hữu hổ” chỉ Đông Tấn thành lập, đóng đô tại Kiến Khang thuộc Giang Đông. “Hổ” chỉ Tư Mã Duệ.
Khóa 3 ○●●●●● Hạ Hạ
Nhiễu nhiễu Trung Nguyên
Sơn hà vô chủ
Nhị tam kỳ vị
Dương chung mã thủy
Tạm dịch:
Nhiễu loạn Trung Nguyên
Non sông không chủ
Hai ba vị ấy
Dê cùng ngựa chạy
Giải: “Nhiễu nhiễu Trung Nguyên, Sơn hà vô chủ” miêu tả Trung Quốc vào thời loạn bát vương, ngũ hồ thập lục quốc và thời đại Nam-Bắc triều. “Nhị tam kỳ vị” (Hai ba vị ấy) chỉ một số Đế vương chỉ tại vị trong một thời gian rất ngắn. “Dương chung mã thủy” (Dê cùng ngựa chạy) chỉ đại loạn khởi từ gia tộc nhà Tư “Mã” {ngựa}, kết thúc là “Dương” Kiên kiến lập triều Tùy. Họ “Dương” (杨) với chữ “dương” {dê} (羊) là đồng âm.
Khóa 4 ●●○●○● Trung Thượng
Thập bát nam nhi
Khởi vu Thái Nguyên
Động tắc đắc giải
Nhật nguyệt lệ thiên
Tạm dịch:
Mười tám nam nhi
Khởi từ Thái Nguyên
Động ắt được giải
Nhật nguyệt tươi đẹp
Giải: “Thập bát nam nhi” là “thập bát tử”, “thập bát tử” (十八子) hợp thành chữ “Lý” (李). Chỉ thời Tùy mạt, Lý Uyên khởi binh từ Thái Nguyên. “Động tắc đắc giải” ý nói Lý Uyên khởi binh là đường sinh, không phải đường tử. “Nhật nguyệt tươi đẹp” chỉ văn minh Đại Đường sáng lạn.
Khóa 5 ○○○●●● Hạ Trung
Ngũ thập niên trung
Kỳ số hữu bát
Tiểu nhân đạo trường
Sinh linh đồ độc
Tạm dịch:
Trong năm thập niên
Số ấy có tám
Tiểu nhân đường dài
Sinh linh tàn hại
Giải: 53 năm sau triều Đại Đường, Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu cùng xưng là “Ngũ Đại”. Thời “Ngũ Đại” tổng cộng có 8 họ người được xưng là Hoàng đế, ứng với “Số ấy có tám”. Thạch Kính Đường tự xưng là Hoàng đế với Khiết Đan, ứng với câu “Tiểu nhân đường dài”.
Khóa 6 ●○○●○○ Thượng Trung
Duy thiên sinh Thủy
Thuận thiên ứng nhân
Cương trung nhu ngoại
Thổ nãi sinh Kim
Tạm dịch:
Chỉ Trời sinh Thủy
Thuận Trời hợp người
Trong cứng ngoài mềm
Thổ ấy sinh Kim
Giải: Triều Tống thực hành nền chính trị nhân từ, thuộc tính “Thủy”. Thổ khắc Thủy, như vậy triều Kim sinh ra từ Thổ chính là khắc tinh của triều Tống. “Thổ nãi sinh Kim”, “Kim” chỉ nước Kim, kẻ thù không đội trời chung của triều Tống. Chính sách nội ngoại của triều Tống có thể dùng “trong cứng ngoài mềm” để hình dung.
Khóa 7 ●○●○○● Trung Trung
Nhất nguyên phục thủy
Dĩ cương xử trung
Ngũ ngũ tương truyền
Nhĩ Tây ngã Đông
Tạm dịch:
Một nguyên về đầu
Lấy cứng đặt giữa
Năm năm tương truyền
Ngươi Tây ta Đông
Giải: “Nhất nguyên phục thủy” (Một nguyên về đầu) chỉ triều Nguyên kiến lập. “Dĩ cương xử trung” (Lấy cứng đặt giữa) chỉ người Mông Cổ thống trị cực kỳ hà khắc với người Hán. “Ngũ ngũ tương truyền” là chỉ triều Nguyên tổng cộng có 10 (=5+5) vị Hoàng đế. “Nhĩ Tây ngã Đông” chính là nói người Mông Cổ phân thành các Hãn quốc.
Khóa 8 ○○●●●○ Thượng Thượng
Nhật nguyệt lệ thiên
Kỳ sắc nhược xích
Miên miên diên diên
Phàm thập lục diệp
Tạm dịch:
Nhật nguyệt tươi đẹp
Sắc ấy như đỏ
Kéo dài liên miên
Gồm mười sáu lá
Giải: “Nhật nguyệt tươi đẹp”, chữ “nhật” (日) ghép với chữ “nguyệt” (月) chính là chữ “Minh” (明), chỉ triều Minh. “Sắc ấy như đỏ”, đỏ là “chu”, chỉ họ “Chu” (朱). “Kéo dài liên miên, Gồm mười sáu lá”, ý nói triều Minh có tổng cộng 16 đời Hoàng đế.
Khóa 9 ○●○●●● Trung Thượng
Thủy nguyệt hữu chủ
Cổ nguyệt vi quân
Thập truyền tuyệt thống
Tương kính nhược tân
Tạm dịch:
Nước trăng có chủ
Trăng cổ làm vua
Truyền mười tuyệt sạch
Kính nhau như khách
Giải: “Thủy nguyệt hữu chủ”, ba điểm Thủy (氵) cộng thêm “nguyệt” (月) rồi thêm “chủ” (主) hợp thành một chữ “Thanh” (清). “Cổ nguyệt vi quân”, “cổ nguyệt” (古月) chính là chữ “Hồ” (胡), chỉ triều Thanh do người dân tộc thiểu số (Hồ nhân) kiến lập. “Thập truyền tuyệt thống” ý nói triều Thanh từ khi nhập quan truyền được 10 đời Hoàng đế, cuối cùng là Tuyên Thống. “Tương kính nhược tân” (Kính nhau như khách) là chính phủ Quốc Dân ưu đãi các thành viên vương tộc nhà Thanh.
Khóa 10 ●○●○●● Trung Hạ
Thỉ hậu ngưu tiền
Thiên nhân nhất khẩu
Ngũ nhị đảo trí
Bằng lai vô cữu
Tạm dịch:
Lợn sau trâu trước
Nghìn người một miệng
Năm hai đảo ngược
Bạn đến không trách
Giải: “Lợn sau trâu trước” là năm Tý 1912 (sau Hợi trước Sửu), Trung Hoa Dân Quốc thành lập. “Thiên nhân khẩu” (千人口) chính là chữ “hòa” (和), chỉ thực hành cộng hòa chế. “Ngũ nhị đảo trí”, “ngũ” là ngôi Vua (có câu “cửu ngũ chí tôn”), như vậy “Năm hai đảo ngược” ý là “dân chủ”. “Bằng lai vô cữu” là quái từ, chỉ tuy có xâm nhiễu mà cũng không ngại lắm (bị Nhật Bản xâm lược nhưng không ngại).
Khóa 11 ○●○○●○ Trung Hạ
Tứ môn sạ tích
Đột như kỳ lai
Thần kê nhất thanh
Kỳ đạo đại suy
Tạm dịch:
Bốn cửa mở toang
Thình lình đột ngột
Tiếng gà gáy sớm
Đạo này đại suy
Giải: “Bốn cửa mở toang” chính là chữ “cộng” (共), chỉ đảng cộng sản bất ngờ được thiên hạ, văn hóa truyền thống 5.000 năm bị phá hoại. “Tiếng gà gáy sớm, Đạo này đại suy”, chỉ năm Dậu {gà} 2005, «Cửu bình cộng sản đảng» phát hành, dân chúng đua nhau thoái đảng, thế đảng bắt đầu suy bại.
Khóa 12 ●○○○○● Thượng Trung
Chửng hoạn cứu nạn
Thị duy Thánh nhân
Dương phục nhi trị
Hối cực sinh minh
Tạm dịch:
Cứu họa cứu nạn
Duy có Thánh nhân
Dương phục mà trị
Đêm hết ngày rạng
Giải: “Cứu họa cứu nạn, Duy có Thánh nhân”. Thời kỳ mạt Pháp, giữa thời loạn thế, Pháp Luân Đại Pháp hồng truyền cứu người. “Dương phục mà trị, Đêm hết ngày rạng”, chỉ ngày 21 tháng 12 năm 2012 (ngày Đông chí), nghênh đón vạn vật canh tân, bắt đầu kỷ nguyên mới. Theo sách «Hoàng Cực kinh thế» của Thiệu Ung tiên sinh triều Tống, năm 2012 là quẻ “Phục” (Địa Lôi Phục). Còn “Hối cực sinh minh” (Đêm hết ngày rạng) chính là Đông chí trong 24 tiết khí, là ngày Âm cực đỉnh Dương mới sinh, vừa trùng khớp với ngày trong tiên tri của người Maya.
Khóa 13 ○●●○○○ Thượng Trung
Hiền bất di dã
Thiên hạ nhất gia
Vô danh vô đức
Quang diệu Trung Hoa
Tạm dịch:
Hiền không rơi mất
Thiên hạ một nhà
Không danh không đức
Chói lọi Trung Hoa
Giải: Đoạn này nói về thời kỳ chỉnh thể đạo đức nhân loại hồi thăng, mọi người toàn thế giới đối xử với nhau như người một nhà, là tượng thế giới đại đồng. Giống với Tượng 59 «Thôi Bối Đồ» (“Vô thành vô phủ, Vô nhĩ vô ngã, Thiên hạ nhất gia, Trị trăn đại hóa”).
Khóa 14 ○●○●○● Trung Hạ
Chiêm đắc thử khóa
Dịch số nãi chung
Tiền cổ hậu kim
Kỳ Đạo vô cùng
Tạm dịch:
Bói được quẻ này
Dịch số đã hết
Trước cũ sau mới
Đạo ấy vô cùng
Giải: Văn minh lần này kết thúc, kỷ nguyên mới bắt đầu. Giống với Tượng 60 «Thôi Bối Đồ» (“Nhất Âm nhất Dương, Vô chung vô thủy, Chung giả nhật chung, Thủy giả tự thủy”).
Ghi chú: Các dự ngôn khác cũng nói về quẻ “Phục” năm 2012.
«Mai Hoa Thi»: “Dục tướng Bác Phục vấn tiền nhân”: năm 2011 là quẻ “Bác”, năm 2012 chính là quẻ “Phục”.
«Bộ Hư Đại Sư dự ngôn thi»: “Thế vũ tam phân, Hữu Thánh nhân xuất, Huyền sắc kỳ quan, Long trương kỳ phục, Thiên địa phục minh, Xử trị vạn vật, Tứ hải âu ca, Ấm thụ kỳ phúc”.
«Thôi Bối Đồ», Tượng 1: “Chu nhi phục thủy”; «Thôi Bối Đồ» tổng cộng 60 Tượng, tuần hoàn một vòng theo lục thập giáp tử.
Nam Việt / Tổng hợp Chanhkien, Secretchina

Mạn đàm về cái chết của Đổng Trác: Chuyện sinh tử đã được báo trước

Chuyện Đổng Trác chết dưới tay Lữ Bố trong “Tam Quốc diễn nghĩa” hẳn là điển cố mà không ít người say mê đại danh tác này vẫn còn nhớ, bởi một phần nó cũng liên quan đến một trong tứ đại mỹ nhân của Trung Quốc là Điêu Thuyền. Nhưng không biết có bao người để ý, cái chết của Đổng Trác thực tế trước đó đã có rất nhiều điềm báo.

“Tam Quốc diễn nghĩa”, một trong tứ đại danh tác văn học cổ điển nổi tiếng Trung Quốc, khi tôi còn học trung học đã từng đọc qua, đó là cuốn tiểu thuyết duy nhất tôi từng xem thời trung học.
Thời gian trôi qua đã lâu, kí ức lúc bấy giờ cũng đã nhạt nhòa, hơn nữa lúc đó chỉ đọc như kiểu ăn tươi nuốt sống, căn bản vốn không hiểu gì cả. Bây giờ đã là thời đại vi tính, tuy không cần phải tốn tiền mua sách nữa, trong máy tính của mình đã tải về rất nhiều sách điện tử, nhưng sách nhiều rồi lại không có nhiều thời gian như vậy để đọc. Đúng như câu người ta thường nói, lúc không có tiền thì có thì giờ đọc sách, đợi đến khi có tiền rồi thì lại không có thời gian để xem nữa.
Một lần tình cờ, tôi có dịp xem phim “Tam Quốc diễn nghĩa” trên truyền hình, xem đến đoạn “Cái chết của Đổng Trác”, bỗng dưng phát hiện Đổng Trác trên đường đến kinh thành có nghe thấy một bài đồng dao, “thảo thiên lí, hà thanh thanh, thập nhật bốc, bất đắc sinh (cỏ ngàn dặm, xanh được sao? Trong mười ngày, không được sống)
Trong phim, một người đàn ông vội vàng đuổi đám trẻ đi, rồi còn nói, bài đồng dao này có ý nói rằng Đổng Trác sắp phải chết, nên ông ta lo sợ Đổng Trác sẽ làm hại lũ trẻ. Xem đến đây, bất giác cảm thấy hiếu kì, dứt khoát vào sách điện tử mở “Tam Quốc diễn nghĩa” xem lại, vừa tìm thử, quả nhiên thấy có bài đồng dao này. Ngoài bài đồng dao này ra, tôi còn phát hiện thấy trước cái chết của Đồng Trác đã có rất nhiều điềm báo khác nữa, tổng cộng có hơn 5 điều:
Trác ra khỏi My Ổ, lên xe, quân sĩ tiền hô hậu ủng, hướng về Trường An. Đi chưa được ba mươi dặm, chiếc xe đang ngồi, bỗng gẫy một bánh, Trác xuống xe cưỡi ngựa. Lại đi chưa được mười dặm, ngựa tự dưng lồng lên gầm thét dữ tợn, lôi đứt dây cương. Trác hỏi Túc rằng: ‘Xe gẫy bánh, ngựa đứt cương, là điềm gì?’. Túc đáp: ‘Chính là điềm Thái sư sẽ nối ngôi nhà Hán, thay cũ đổi mới, sẽ ngồi kiệu ngọc yên vàng’ . Trác vui vẻ tin lời. Hôm sau, đang lúc đi, bỗng một cơn gió dữ nổi lên ầm ầm, mây kéo nghịt trời. Trác hỏi Túc rằng: ‘Đây là thế nào?’. Túc thưa: ‘Chúa công nối ngôi rồng, tất sẽ có ráng hồng mây tía, trợ thêm oai trời’. Trác nghe lấy làm lọt tai. Khi đến trước thành, bá quan đều ra nghênh đón. Chỉ có Lí Nho cáo bệnh ở nhà, không ra đón được. Trác vào tướng phủ, Lữ Bố theo cùng. Trác nói: ‘Ta lên ngôi Cửu Ngũ chí tôn, con sẽ thống lĩnh binh mã thiên hạ’.
Bố bái tạ, rồi vào lều nghỉ ngơi. Đang đêm, mười đứa trẻ hát rong ngoài đường phố, gió đưa tiếng hát vào tận màn. Hát rằng: ‘Cỏ nghìn dặm, xanh thế nào? Trong mười ngày, không được sống’. Tiếng hát ai oán bi thương. Trác hỏi Lí Túc rằng: ‘Bài đồng dao này, hung cát thế nào?’. Túc đáp: ‘Ý là họ Lưu bị diệt, họ Đổng lên thay’.
Mờ sáng hôm sau, Trác sai bày nghi vệ, rồi bắt kẻ hầu người hạ đi theo vào trong triều, bỗng thấy một Đạo nhân, mình mặc áo xanh, đầu đội khăn trắng, tay cầm một cái sào dài, trên buộc mảnh vải dài một trượng, hai đầu viết hai chữ “Khẩu”. Trác hỏi Túc: ‘Đạo nhân này là ý gì?’. Túc nói: ‘Đó là một kẻ điên’. Rồi lệnh quân sĩ đuổi đi”.
Những điềm báo như: xe gẫy bánh, ngựa đứt cương, mây đen nghịt trời, tiếng trẻ hát trong đêm, cùng với Đạo nhân cầm sào,…kì thực đều là điềm báo về cái chết của Đổng Trác; chẳng qua là Lý Túc, người giải điềm báo cho Đổng Trác, cũng là người muốn lấy mạng y, nên đã cố tình giải sai hàm nghĩa những điềm báo này.
Đổng Trác, ĐCSTQ, Tam quốc diễn nghĩa, Bài chọn lọc,
Đổng Trác
Dưới đây chúng ta hãy xem thử hàm nghĩa thật sự của những điềm báo này:
Ba điều đầu tiên là xe gãy bánh, ngựa đứt cương, mây đen nghịt trời, những hiện tượng bất thường này chỉ là cảnh báo nguy hiểm, chứ không có nói rõ điều gì thêm, nhưng tiếng trẻ hát trong đêm cùng với Đạo nhân cầm sào ở phía sau đã nói rõ về cái chết của Đổng Trác cùng với người giết y.
Bài đồng dao “thảo thiên lí, hà thanh thanh! Thập nhật bốc, bất đắc sinh” (cỏ ngàn dặm, xanh thế nào!Trong mười ngày, không được sống!). Kỳ  thực, đây là một dạng đố chữ, “thảo thiên lí”, đây là chữ “Đổng”, ám chỉ họ của Đổng Trác; “hà thanh thanh”, “” chính là “như thế nào được”, chính là không thể giữ được xanh  tươi “thanh thanh”, vậy không phải khô héo thì là gì đây, thực ra là chỉ cái chết; “thập nhật bốc”, đây chính là chữ “Trác”, ám chỉ tên của Đổng Trác; “bất đắc sinh”, càng nói rõ hơn là Đổng Trác sắp phải chết.
Còn về “Đạo nhân cầm sào” xuất hiện ở đoạn sau, đầu đội khăn trắng là chỉ “để tang”, người chết rồi mới phải để tang; hai đầu của tấm vải trên cây sào lần lượt viết hai chữ “khẩu” (口), hai chữ  “khẩu “ này ghép lại thì chính là chữ “Lữ” (侶), đây ám chỉ họ của Lữ Bố; vậy là tấm vải trên cây sào là chỉ tên của Lữ Bố. “Đạo nhân cầm sào” đã chỉ rõ người giết Đổng Trác chính là Lữ Bố.
Văn hóa chính thống của Trung Hoa chính là như vậy, chính là tin vào sự tồn tại của Thần Phật, văn hóa cổ đại này chính là văn hóa nửa Thần. Những điều xuất hiện trước khi Đổng Trác chết, thực ra chính là điềm báo.
Có thể có người nói đây là tiểu thuyết, những điều trong tiểu thuyết rốt cuộc cũng chỉ là hư cấu mà thôi. Mặc dù “Tam Quốc diễn nghĩa” là bảy thực ba hư nên không thể nói rõ rằng sự thật lịch sử chính là như vậy. Tuy nhiên, những gì ghi chép trong cuốn sách sử là “Tam Quốc Chí”  cùng với “Hán Mạt anh hùng kí’ của Vương Sán thời bấy giờ, so với “Tam Quốc diễn nghĩa” phần lớn là giống nhau, ví như bài đồng dao nói trên, trong “Hán Mạt anh hùng kí”, được nhắc đến như sau:
Lúc bấy giờ có lời đồn rằng: ‘thảo thiên lí, hà thanh thanh, thập nhật bốc, do bất sinh’; lại thêm bài hát ‘Đổng đào’ (Đổng Trác bỏ trốn). Cũng lại có Đạo sĩ viết một chữ ‘Lữ’ trên  tấm vải trước mặt Trác, Trác không biết đó là Lữ Bố. Khi Trác vào triều, binh mã đứng chật hai bên, từ doanh trại đến hoàng cung, triều thần dẫn đầu nghênh đón. Con ngựa quỵ xuống, không thể đi tiếp được, Trác rất muốn dừng lại, Bố khuyên hãy đi tiếp, từ Trung Giáp mà vào trong cung”.
Từ trong những quyển sách sử này, ta cũng có thể thấy được rằng đây đều là những điềm báo trước về cái chết của Đổng Trác. Đọc sách sử, liền liên tưởng đến hiện thực trước mắt, bây giờ ở Trung Quốc cũng có những điềm báo tương tự, dự ngôn về những điều sẽ xảy đến ở Trung Quốc trong tương lai, trong đó không gì có thể sánh được với “Tàng Tự Thạch” ở tỉnh Quý Châu.
Vào tháng 6/2002, “Tàng Tự Thạch” được phát hiện tại quân trại Lãng Mã, huyện Bình Đường, Quý Châu. Một tảng đá lớn nặng hơn trăm tấn sau khi rơi từ trên đỉnh núi xuống, vỡ thành hai mảnh, điều kì lạ nhất chính là ở trên mặt vết nứt có thể nhìn thấy rõ ràng năm chữ lớn “Trung Quốc Cộng Sản Đảng Vong” xếp theo hàng ngang một cách ngay ngắn. Theo tờ báo, năm chữ này được hình thành tự nhiên, không có dấu vết người điêu khắc, trạm trổ, lắp ghép gì cả.
Đối với bản tin này, nhà xuất bản Nhân Dân nhật báo ở hải ngoại vào lần xuất bản thứ 6, ngày 27/4/2006, cũng đã đưa tin. Tuy nhiên, bài viết không hề đề cập đến chữ “Vong” đứng phía sau năm chữ “Trung Quốc Cộng Sản Đảng”, dù chữ “Vong” này có thể được trông thấy rõ ràng như năm chữ trước đó.
Đổng Trác, ĐCSTQ, Tam quốc diễn nghĩa, Bài chọn lọc,
Tàng Tự Thạch bỗng dưng nứt đôi lộ ra dòng chữ “Trung Quốc Cộng Sản Đảng vong”, tiết lộ thiên cơ về sự sụp đổ của ĐCSTQ.
Sự kiện này rõ ràng là điềm báo trước Đảng Cộng Sản Trung Quốc sẽ sụp đổ.
Đối với điềm báo thuộc loại này hay bất cứ điềm báo nào, cũng sẽ có người tin và không tin, vì thiên cơ vốn là điều không thể để con người dễ dàng biết được, cũng như Đổng Trác kia, điềm báo rành rành trước mặt mà còn không hay không biết.
Kỳ thực chúng ta xem thử các dự ngôn trong ngoài nước xưa nay, đại đa số đều là theo cách nói ẩn giấu, nhưng hôm nay rõ ràng đến như vậy, đây rốt cuộc là sự kiện gì? Tôi nghĩ rằng, càng rõ ràng thì chứng minh rằng sự việc càng khẩn cấp, thời gian càng khẩn cấp, nguy nan cực kì lớn, vậy nên ngay cả tảng đá còn muốn nói thẳng rằng Trung Cộng sắp diệt vong, để cảnh tỉnh người đời, vì sự diệt vong này là do ý trời, là thiên định.
Làn sóng thoái Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đang ngày càng dâng cao, cuồn cuộn như tức nước vỡ bờ, không sao ngăn cản được, đến nay đã gần 200 triệu người can đảm thoái xuất khỏi ĐCSTQ.
ĐCSTQ qua hơn 60 năm cai trị, gieo tai tương thảm sát kinh hoàng khắp nơi, cây chết để mọc lên “thị trấn ma”, sông ngòi cạn đục để nuôi “những nhà máy độc hại”, tham quan không ngừng đục khoét toàn bộ cỗ máy điều hành, người dân bị lừa phỉnh, bịt miệng mà chẳng dám kêu than, nhưng sự ai oán trong lòng là không thể che giấu.
Nay ý trời đã định, ĐCSTQ sẽ bị vùi trong bão tố, chỉ còn ráng sức kéo dài hơi tàn. Chứng kiến tình thế trước mắt, những ai còn là thành phần của đảng này hãy suy nghĩ cho thật kỹ, đừng có vì nhất thời hồ đồ mà đi theo vết xe đổ của Đổng Trác, để rồi chết theo ĐCSTQ, đến lúc ấy ngay cả Đổng Trác cũng sẽ cười nhạo các vị ngu xuẩn như ông ta.
Tác giả: Tư Tưởng
Tiểu Thiện, dịch từ Epoch Times